Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam?



Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam? 
Friday, August 02, 2013 6:37:21 PM 


.
Ngô Nhân Dụng
Các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta, sau khi viết về thời Bắc thuộc ai cũng muốn giải thích tại sao dân Việt Nam không bị Hán hóa sau một ngàn năm bị đô hộ. Trần Trọng Kim viết chương “Kết quả của thời Bắc Thuộc” trong Việt Nam Sử Lược nhấn mạnh đến ý chí của tổ tiên: “Hết thời Bắc thuộc rồi thì người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với người Tàu.” Sử gia Lê Thành Khôi trong Histoire du Việt Nam giải thích rằng hiện tượng người Việt bảo tồn được tiếng nói là một sức mạnh đề kháng bền bỉ nhất. Sử gia Keith Taylor, trong cuốn The Birth of Vietnam, đồng ý về yếu tố ngôn ngữ; ông ghi nhận thêm sự phát triển của Phật Giáo trong thời Bắc thuộc là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự hình thành nước Việt Nam. Trong cuốn Nhìn Lại Sử Việt (tập I) Lê Mạnh Hùng nêu thêm các yếu tố kinh tế, xã hội. Ông nhắc tới tình trạng tập trung dân số rất đông ở vùng Ðồng Bằng Sông Hồng, với nền tảng kinh tế vững chắc; dựa trên hai lợi thế đó, tổ tiên chúng ta bảo vệ được một nền văn minh cổ truyền trong hai thế kỷ đầu tiếp xúc với người Hán; nhờ thế về sau khả năng đề kháng càng vững mạnh hơn. Tất cả những ý kiến trên đều có lý. Nhưng người Việt học sử dân tộc vẫn còn tò mò muốn biết rõ hơn. “Cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” mà Trần Trọng Kim nói, thực ra đó là gì, nhờ đâu tổ tiên chúng ta có được, và đã được thể hiện như thế nào?
Yếu tố quan trọng nhất giúp tổ tiên người Việt không bị Hán hóa có lẽ là, trước khi người Hán tới, dân Việt đã có sẵn một nền nếp trong cuộc sống chung, gọi là văn minh. Tổ tiên chúng ta đã có bản sắc văn hóa đủ vững chắc, nhiều đời trước khi bị chiếm đóng rồi bị đô hộ trực tiếp. Tổ tiên người Việt đã xây dựng một đời sống xã hội đủ chặt chẽ để họ có thể tự hào về chính mình. Nhờ thế họ không bị hấp dẫn, không bị cuốn chìm vào lối sống mà người phương Bắc đem tới, bắt phải theo. Ngoài những yếu tố chủ quan, như ngôn ngữ, chủng tộc, phong tục riêng, tinh thần bất khuất, vân vân, chúng ta còn thấy những điều kiện khách quan cũng thuận lợi cho ý thức dân tộc thành hình và phát triển. Có nhiều yếu tố bên ngoài hỗ trợ dân tộc Việt Nam. Vị trí nước ta ở ngã ba Châu Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương giúp cho dân Việt tiếp nhận nhiều nguồn văn minh trước khi gặp người Hán; cho nên bản sắc thêm vững chắc và bền bỉ đủ để tự vệ. Nhiều biến cố chính trị, kinh tế vào mỗi thời, ở Trung Quốc hay trong vùng Ðông Nam Á, cũng tình cờ tạo cơ duyên thuận lợi cho các cố gắng giành tự chủ của người Việt. Các điều kiện địa dư, khí hậu do thiên nhiên cống hiến góp thêm những hàng rào ngăn cản khiến người Hán bành trướng xuống tới biên giới nước Việt thì bị ngăn lại.

Chúng ta càng thấy rõ sức đề kháng mạnh tiềm ẩn trong dân tộc Việt khi hiểu những “sức mạnh mềm,” với chữ viết và các định chế chính trị, luân lý, tư tưởng của nền văn minh Trung Hoa mà họ dùng để đồng hóa sau khi chinh phục. Họ đã Hán hóa bao nhiêu sắc dân khác sống ở phía Nam Trường Giang, còn gọi là sông Dương Tử; vùng đất trước đời Tần còn đứng ngoài Trung Quốc. Khác với tổ tiên người Việt, các nhóm dân cư miền Hoa Nam nay đã hoàn toàn hòa nhập vào một quốc gia với khối người Hán từ phương Bắc. Con cháu họ bây giờ tự nhận là người Hán, hãnh diện là thành phần của một quốc gia đông dân nhất thế giới, với một nền văn minh cổ và tồn tại liên tục nhất trong lịch sử nhân loại. Còn người Việt Nam thì nuôi niềm hãnh diện khác: Họ giữ được một quốc gia độc lập không chịu biến thành người Hán. Có người sẽ hỏi: Giữa hai con đường này, làm dân một nước nhỏ độc lập, hay làm dân của một nước lớn như Trung Quốc, con đường nào tốt hơn, nghĩa là giúp cho người dân sống yên lành, hạnh phúc hơn? Tổ tiên người Việt Nam chọn con đường độc lập vì đã gây nên ý thức dân tộc và quyết tâm tự chủ. Lựa chọn đó có thể gọi là “phúc ấm” do tổ tiên để lại, cho chúng ta bây giờ hãnh diện nhận mình vẫn là dân Việt.

Việc tìm hiểu các nhân duyên khiến dân tộc Việt Nam vẫn còn độc lập sẽ giúp chúng ta hiểu công trình của bao nhiêu thế hệ trước, sẽ biết ơn tổ tiên và tin tưởng ở tương lai dân tộc. Nếu sau một ngàn năm Bắc thuộc dân Việt vẫn tồn tại, thì bây giờ cũng không lo sẽ mất. Ðã không bị đồng hóa thành người Hán, tổ tiên chúng ta còn thu hút được các di dân từ miền Bắc tới học sống theo mình, trở thành người Việt. Chúng ta sẽ thấy biến chuyển quan trọng nhất trong thời Bắc thuộc không phải là hiện tượng người Việt chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Các nước khác ở Á Ðông không bị đô hộ ngày nào mà cũng vẫn tự nguyện tìm học những điều hay của nền văn minh đó. Ảnh hưởng Khổng Giáo trên nước ta không phải là một điều đáng ngạc nhiên. Nếu nước Việt Nam không bao giờ bị lệ thuộc người Hán thì chắc chắn tổ tiên chúng ta cũng vẫn tìm học; không khác gì các dân tộc Triều Tiên và Nhật Bản. Khổng Giáo chỉ được triều đình nhà Lê đề cao từ những thế kỷ 15.

Hiện tượng đáng kể nhất trong một ngàn năm Bắc thuộc là quá trình chuyển hóa các di dân người Trung Hoa sang nước ta, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, họ đã dần dần hòa nhập vào khối người Việt ở địa phương; chính họ cũng góp phần bảo vệ và xây dựng nước Việt. Lâm Ngữ Ðường từng công nhận chính các di dân thuộc các sắc tộc “Rợ Hồ” từ phương Bắc tràn xuống vùng sông Hoàng Hà trong nhiều thế kỷ đã “góp máu,” giúp cho dân tộc Trung Hoa cường tráng, hùng mạnh gấp đôi. Người Hoa di dân sang nước ta trong một ngàn năm cũng đóng góp cho dân tộc Việt nhiều như vậy.

Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm người dân Việt, tiếp tục bảo vệ một nước Việt Nam?

Tìm hiểu niềm bí nhiệm đó, chúng ta càng thông được “cái nghị lực riêng và tính chất riêng” của tổ tiên mình, như Trần Trọng Kim nhận xét. Tổ tiên không những để lại một mảnh đất và một nền nếp văn hóa để chúng ta sống với nhau; mà còn để lại cả cái nghị lực và tính cách riêng mà họ đã nung nấu suốt ngàn năm Bắc thuộc.

Ngẫm nghĩ về lịch sử thời Bắc thuộc thì phải tin là nước Việt sẽ không bao giờ mất được. Ngàn năm trước đã không mất thì ngàn năm sau chắc chắn sẽ không mất. Ngàn năm trước, tổ tiên từng chịu đựng những áp lực lớn, nghĩ đã thấy rợn mình. Thế mà vẫn đứng vững. Bây giờ dân mình đông hơn, ý thức dân tộc vững chắc hơn, kinh nghiệm dày dạn hơn. Loài người bây giờ cũng văn minh hơn và liên đới chặt chẽ với nhau hơn, không để cho nước lớn hiếp nước nhỏ.

Hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa có thể sống bên nhau trong hòa bình và lòng tôn kính nếu nước Việt Nam vẫn giữ được chủ quyền của mình, không quá tùy thuộc vào Trung Quốc. Khi hai quốc gia đều sống trong dân chủ tự do thì những xung đột biên giới, biển, đảo, cũng sẽ được giải quyết một cách ôn hòa. Trên thế giới, chưa thấy hai quốc gia tự do dân chủ gây chiến tranh với nhau bao giờ. Vì khi người dân nắm quyền quyết định những việc quan trọng, thì bình thường họ sẽ thấy gây chiến tranh chỉ có hại, bên nào cũng bị thiệt. Trên quan điểm kinh tế, chiến tranh không bao giờ đạt được những lợi ích đủ lớn để bù lại những phí tổn phải chịu đựng. Hiện nay, bên cạnh nước Việt Nam cũng không phải chỉ có một cường quốc duy nhất, như thời Bà Trưng hay thời Ngô Quyền. Trên thế giới sẽ không còn nước lớn nào đi chiếm các nước nhỏ mà các nước khác đứng ngoài coi; vì quyền lợi kinh tế đều dính líu đến nhau.

Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất. Ðiều đáng lo không phải chỉ là mình còn được độc lập hay không. Ðáng lo hơn nữa là nước mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh. Ðáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không đuổi kịp các nước trên thế giới về kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên; để dân mình được sống tự do; để nền nếp đạo lý trong xã hội không tiếp tục suy đồi; để nước mình có thể so sánh ít nhất cũng ngang hàng với các nước đã phát triển vùng Á Ðông?

Nghiền ngẫm lại lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chúng ta càng thấy rõ bổn phận của mình đối với các thế hệ tương lai.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Cờ vàng trong bản án Nguyên Kha và Phương Uyên

Cờ vàng trong bản án Nguyên Kha và Phương Uyên

Trần Trung Đạo (Danlambao) - “Khi còn nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy lá cờ vàng từ góc độ của một sân trường trung học. Khi lớn lên, học hỏi thêm, tôi nhìn lá cờ vàng từ góc độ của chế độ mà tôi đã sống, từ miền Nam tự do mà tôi đã ra đi, từ đất nước mà tôi yêu quý. Và hôm nay, tôi nhìn lá cờ vàng từ trái tim trong sáng của Phương Uyên, một em bé gái Việt Nam vừa mới lớn và đang đập theo nhịp đập của tương lai dân tộc. Chính nghĩa dân tộc rồi sẽ thắng. Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới ôm ấp và đeo đuổi giấc mơ tự do dân chủ cho chính mình và tương lai của con cháu mình. Không ai xót thương và cứu vớt dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Nếu tất cả chúng ta cùng biết đau một nỗi đau chung và cùng biết đeo đuổi một giấc mơ Việt Nam như Nguyên Kha, Phương Uyên đang theo đuổi, tôi tin cuộc vận động tự do dân chủ và phục hồi chủ quyền đất nước sẽ sớm thành công. Điểm hẹn huy hoàng của lịch sử có thể chỉ còn năm phút nữa nhưng nếu không ai đứng dậy và bước đi, năm phút sẽ qua nhanh và mục tiêu không bao giờ đạt đến. Hãy đứng lên và cùng đi với Nguyên Kha, Phương Uyên và tuổi trẻ Việt Nam.”

*

Một em du sinh kể tôi nghe câu chuyện em hỏi mua một lá cờ vàng ba sọc đỏ tại một tiệm Việt Nam trong những ngày mới đặt chân đến Mỹ để theo học đại học.

Trong một lần đi mua sắm tại một tiệm tạp hóa do người Việt làm chủ tại Washington DC, thấy gần quầy tính tiền có để một số cờ Mỹ, Việt loại để bàn, em ngỏ ý muốn mua một lá. “Thưa bác, cờ này để trưng bày hay để bán, nếu bán cháu muốn mua một lá.” Em du sinh hỏi. Bác chủ tiệm nhìn em từ đầu đến chân. Qua giọng nói, cách ăn mặc, bác chủ tiệm, vốn cũng là người gốc Bắc, biết rõ chẳng những em vừa mới Việt Nam mà còn thuộc tỉnh nào ở miền Bắc nữa. “Cậu mua để làm gì?” Bác hỏi lại với giọng nghi ngờ. “Thưa bác, đấy là việc của cháu. Cháu chỉ muốn biết cờ này có bán không thôi ạ.” Em trả lời. Bác chủ tiệm vốn đã không thiện cảm lại càng khó chịu với cách trả lời hụt hẫng của em. Trong suy nghĩ của bác xuất hiện nhiều phỏng đoán nhưng không có một phỏng đoán nào tốt. Bác nghĩ đến việc “thằng Cộng con” này có thể mua để đốt, để xé bỏ, để ném xuống sông Potomac cho khuất mắt. Bác đưa tay kéo hàng cờ nhỏ cắm trên tấm bảng gỗ nhỏ lại gần tưởng như em sẽ giật chạy. “Cậu biết cờ này là cờ gì không?” Bác chủ tiệm gằn giọng như một công tố viên đang trưng bằng chứng lịch sử trước bị can. “Thưa không ạ, cháu chỉ biết đây là cờ vàng.” Em du sinh kiên nhẫn đáp tuy trong bụng than thầm “Mua một lá cờ sao khó thế”. “Đây là cờ quốc gia!” Bác chủ tiệm nhấn mạnh từng chữ. Và rồi không chờ em đáp, bác giảng cho em du sinh nghe một bài về ý nghĩa lá cờ vàng. “Không bán, cậu ra khỏi chỗ này đi.” Bác giận dữ kết luận. Em lặng lẽ ra về.


Mấy năm sau, câu chuyện đã trở thành chuyện vui trong những ngày đầu di du học, em thú thiệt với tôi khi bác chủ tiệm hỏi em cũng không biết mua để làm gì. Em không thể đem cờ về Việt Nam, không thể trưng bày cờ trong phòng khách, trong lớp học nhưng em hỏi mua vì thật sự muốn biết thêm về lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đó là một phần của lịch sử Việt Nam. Không phải riêng em du sinh, dần dần càng nhiều người Việt thuộc thế hệ em muốn biết về lá cờ vàng. Sau khi hệ thống CS Đông Âu sụp đổ, lãnh đạo các nước CS Á Châu không còn cách nào khác nên phải “tự diễn biến hòa bình” để tồn tại. Cánh cửa thông tin hé mở, ánh sáng khoa học qua những khe hở rọi vào và em là một trong những con chim nhỏ may mắn nhìn được bầu trời từ kẻ hở đó.

Tuy chưa có cơ hội nắm bắt hết ý nghĩa lịch sử, các em có đủ nhận thức để tự đặt vấn đề, rằng nếu cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của tất cả mọi xấu xa, tội ác như các em được dạy thì những gì các em đang thừa hưởng hôm nay, từ những bản tình ca các em hát mỗi ngày cho đến những bài thơ đậm đà tình dân tộc, những bài văn ca ngợi tình người, tình cha mẹ, gia đình, làng xóm, và ngay cả trong cách cách ăn, cách mặc, cách nói năng lễ độ, lối sống tự do thoải mái do ai để lại?

Dĩ nhiên không phải đến từ chính sách trồng người đang làm thui chột khả năng sáng tạo của các em, không phải từ nền giáo dục ngu dân dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đang biến các em thành những con người vô cảm. Và nếu không phải từ hôm nay, có thể là sản phẩm để lại từ một chế độ đang bị đảng CS nguyền rủa mỗi ngày. Tìm hiểu về lá cờ vàng, do đó, đang là một trào lưu mới trong thế hệ trẻ Việt Nam.

Mới đầy, cờ vàng ba sọc đỏ lần nữa là trung tâm của vụ án Nguyên Kha và Phương Uyên. Một quan điểm cho rằng, sở dĩ đảng CS giáng xuống đời hai em những bản án nặng nề chỉ vì Phương Uyên in lá cờ vàng làm truyền đơn và đem dán tại vài địa điểm. Theo lời mẹ của Phương Uyên kể lại nội dung phiên tòa, Phương Uyên không từ chối có in lá cờ vàng ba sọc đỏ nhưng chỉ vì em muốn tìm hiểu về lịch sử.

Lời phát biểu của em Nguyễn Thiện Thành khi trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do sau đây lần nữa xác định lời khai của Phương Uyên trước tòa: “Khi học lịch sử chúng tôi hiểu được màu cờ vàng là màu truyền thống của dân tộc VN trong xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử và lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ có từ thời vua Thành Thái 1890 một triều đại Kháng Pháp, và vua Thành Thái bị lưu đày. Chúng tôi sử dụng lá cờ gần nhất trong lịch sử VN để nói lên tinh thần dân tộc bất khuất.”

Nhưng tại sao các em lại phải đi tìm một lá cờ, trong trường hợp này là cờ vàng ba sọc đỏ, để nói lên tinh thần bất khuất chống ngoại xâm?

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng không “nói lên tinh thần dân tộc bất khuất”. Tổ quốc là không gian, thời gian, nguồn cội và là căn nhà chung của một giống dân có cùng một lịch sử, văn hóa, truyền thống, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Ngay trong Đại Tự Điển do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo và nhà Xuất bản Văn hóa Thông Tin ấn hành năm 1998 cũng định nghĩa tổ quốc là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.” Đảng CS, về đối nội, nhẫn tâm bỏ tù từ cụ già đến em bé vị thành niên nhưng đối ngoại chỉ biết cúi đầu trước Trung Quốc ngang ngược. Đọc những lời phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam của các phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN từ Lê Dũng trước kia đến Lương Thanh Nghị ngày nay gần như chỉ có một nội dung ngoại giao sáo rỗng tuy khác nhau ngày tháng. Lãnh đạo đảng biết rằng việc chỉ trích nặng lời chỉ càng thêm tổn hại cho mối quan hệ về sau giữa hai đảng chứ chẳng làm Trung Quốc nhả ra một thước đất nào. Trung Quốc biết điều đó rất rõ nên cũng rất ít quan tâm đến những lời phản đối lấy lệ của phía Việt Nam.

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng chỉ đại diện cho đảng CS độc tài. Dù người vẽ cờ là Lê Quang Sô, Nguyễn Hữu Tiến, Hồ Tri Hạ hay nhập từ Trung Quốc, Liên Xô, lá cờ đỏ sao vàng vẫn là lá cờ CS và đã được đại hội Xứ Ủy Nam Kỳ thông qua tại Tân Hương vào tháng Bảy 1940. Chỉ cần đọc lại lịch sử thế giới trong phần tư thế kỷ qua thôi, từ 15 nước thuộc Liên Bang Xô Viết cho đến 8 nước Cộng Sản Đông Âu, 3 nước Cộng Sản vùng Baltics (Latvia, Lithuania, Estonia), Cộng Sản Phi châu (Ethiopia), Cộng Sản Á Châu (Kampuchea), có quốc gia thay đổi ít như Ba Lan hay quốc gia thay đổi hoàn toàn như Nga, nhưng không có một nước nào tiếp tục sử dụng lá cờ của chế độ Cộng Sản làm cờ đại diện cho quốc gia thời kỳ sau Cộng Sản. Trong quan điểm đó, thương hiệu nền đỏ sao vàng của đảng CSVN chỉ gắn liền với sự cai trị của đảng CS không thể gọi là cờ tổ quốc và càng không nên dùng để biểu dương lòng yêu nước của mình. Lý luận cho rằng chỉ cờ búa liềm mới là cờ đảng CS còn cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc chẳng khác gì bảo Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Quốc hội CSVN, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là những cơ quan hoàn toàn độc lập chứ không phải là một tổ chức trực thuộc trung ương đảng CSVN và đều do các ủy viên Bộ Chính Trị trực tiếp lãnh đạo.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ đang bị che dấu, bị trù dập là lá cờ mà các em cần phải biết nhiều hơn. Có thể các em chưa biết nhiều về lá cờ vàng ba sọc đỏ nhưng một điều các em biết cái gì đảng nguyền rủa, đảng sợ hãi cái đó phải tốt, phải đúng. Các em có thể bắt đầu do tính tò mò, do chán ngán với thực tế phũ phàng đang có, dần dần có nhận thức rõ và sâu sắc hơn về các vấn đề lịch sử. Thì ra, lá cờ vàng, không phải chỉ có một nguồn gốc lịch sử lâu dài nhưng còn từ máu xương, từ mồ hôi nước mắt, từ hơi thở của những người đã gìn giữ và bảo vệ vùng trời, vùng biển tự do của đất nước. Một tài sản dù đồ sộ bao nhiêu cũng không có giá trị lớn về mặt tinh thần nếu tài sản đó không được đánh đổi bằng mồ hôi ước mắt của những người đã tạo ra nó. Lá cờ vàng đã đắp lên bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu quan tài, bao nhiêu khuôn mặt tuổi thanh niên đã chết vì lý tưởng tự do của dân tộc trong cuộc chiến tự vệ đầy gian khổ để bảo vệ từng thước đất, từng hải lý của tổ quốc thân yêu. Không giống như những năm bị khóa chặt trong bốn bức tường đen sau 1975, thế hệ trẻ ngày nay, nếu chịu khó học hỏi, đọc nhiều nguồn tư liệu khác nhau, các em sẽ biết ngay lá cờ vàng ba sọc đỏ không đơn giản là cờ của “Bù nhìn Bảo Đại”, “chế độ Ngô Đình Diệm” hay “chế độ Nguyễn Vãn Thiệu”, biểu tượng cho “tội ác ngập đầu của Mỹ Ngụy”, phản ảnh một “xã hội miền nam thối tha đồi trụy” như em đã được dạy trong trường, học tập trong sinh hoạt chi đoàn. Các chế độ chính trị, dù tốt hay xấu, hưng thịnh hay suy vong cũng đến và đi nhưng màu cờ vàng đại diện cho cả quốc gia như dòng nước vẫn tiếp tục trôi trên con sông lịch sử.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ VNCH và phục hồi giá trị lá cờ không có nghĩa là phục hồi chế độ VNCH, tái lập hiệp định Paris, chia đôi đất nước như trước 1975. Không. Dân tộc Việt Nam không hề đặt bút ký thỏa ước Patenotre, hiệp định Geneve hay hiệp định Paris. Tất cả chỉ là sự áp đặt của thực dân và đế quốc đã diễn ra dưới nhiều hình thức trong những thời điểm khó khăn của vận mệnh đất nước. Trong suốt hai thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam liên tục là nạn nhân đáng thương, bị xâm lược bởi các ý thức hệ ngoại lai vong bản. Không một người Việt Nam yêu nước nào muốn thấy quê hương chìm đắm và tiếp tục chìm đắm trong lạc hậu, độc tài triền miên như thế này. Một người Việt Nam nào thiết tha với tiền đồ đất nước cũng muốn thấy quê hương được thật sự tự do, thống nhất từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau ôm ấp Hoàng Sa, Trường Sa trong bao la tình biển mẹ. Nhân dân Việt Nam chỉ chống lại việc thống nhất đất nước bằng xe tăng và đại pháo của Nga, Tàu và đặt cả nước dưới ách cai trị độc tài chuyên chính của đảng CSVN mà thôi.

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng là cờ phi nghĩa. Các nhà lãnh đạo Cộng Sản không thể chứng minh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Hãy đọc con số thống kê: Ba triệu người chết trong chiến tranh. Ba trăm ngàn người còn ghi nhận là mất tích sau chiến tranh. Một xứ sở 38 năm sau chiến tranh vẫn còn bị xếp vào một trong những nước chậm tiến. Một chế độ độc tài đảng trị bị loài người khinh rẻ. Một nền kinh tế khoa học kỹ thuật đi sau nhân loại hàng thế kỷ. Nhãn hiệu độc lập, tự do, hạnh phúc sau bao năm đánh bóng cũng chỉ hiện nguyên hình là những con cá gỗ. Tất cả những hậu quả đó là cái giá dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng dân tộc” của lãnh đạo đảng CSVN. Đó không phải là chính nghĩa, không phải là giải phóng nhưng là tội ác diệt chủng. Ngạn ngữ Tây phương có câu “Ai giải thích được lịch sử người đó thắng”. Những cường hào ác bá đang sống trong các biệt thự nguy nga ở Hà Nội, Sài Gòn ngày nay không phải là những người làm nên lịch sử nhưng chỉ là những kẻ, trước đây, đã ăn cắp lịch sử, giải thích lịch sử, bóp méo lịch sử cho phù hợp với tham vọng Cộng sản hóa Việt Nam, và ngày nay, để tiếp tục sống huy hoàng trên những thống khổ triền miên của dân tộc Việt Nam.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ chống Trung Quốc bành trướng một cách dứt khoát. Khi Phương Uyên dõng dạc tuyên bố trước tòa án CS “Tôi dùng máu viết khẩu hiệu ‘Tàu khựa cút khỏi Biển Đông’ và ‘Đảng cộng sản chết đi’, khẩu hiệu bị cho là ‘phỉ báng đảng cộng sản Việt Nam’, là vì tôi thể hiện lòng yêu nước khi tôi căm phẫn Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam đến tột cùng sự phẫn uất” cho thấy suy nghĩ của em chẳng những vượt cao hơn những người cùng thế hệ mà còn can đảm và rõ ràng hơn những bậc cha chú còn cam tâm nhận ơn mưa móc của đảng. “Tàu khựa cút” và “Đảng Cộng Sản chết” là hai điều kiện tiên quyết để phục hồi chủ quyền đất nước về đối nội cũng như đối ngoại. Lịch sử Việt Nam cho thấy, muốn thắng kẻ thù xâm lược dân tộc phải biết đoàn kết và phát huy nội lực. Ngày nào đảng CS còn cai trị đất nước bằng nhà tù, trấn áp và cúi đầu trước Tàu Khựa thì đừng mong gì đoàn kết và phát huy nội lực, đừng mong đòi lại được Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa. Nguyên Kha biết điều đó. Phương Uyên biết điều đó. Nhân dân Việt Nam có nhận thức đúng về hướng đi của đất nước biết điều đó. Nếu không phải do chính bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của Phương Uyên và những người chính mắt tham dự phiên tòa thuật lại, thật không ai có thể tin một cô bé mong manh như giọt sương buổi sáng 21 tuổi đó đã điềm tỉnh đón nhận bản án dành cho em. Em trở thành huyền thoại ngay trong khi còn sống và ở tuổi hai mươi. Em dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để dựng mùa xuân cho dân tộc Việt Nam.

Thế hệ tuổi hai mươi hôm nay sinh ra nhiều năm sau khi chiến tranh chấm dứt nên có nhiều điều các em chưa hiểu hết. Từ sau ngày 30 tháng Tư 1975, lá cờ vàng không còn bay trên bầu trời miền Nam nhưng đã để lại cho nhân dân Việt Nam, trong đó có các em, những tài sản vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, và nếu lấy các giá trị và thành quả đó ra, Việt Nam hôm nay chỉ là một địa ngục Bắc Hàn.

Thật vậy, chỉ bàn sơ về âm nhạc, một lãnh vực gần gũi nhất với thế hệ trẻ. Gác qua một bên quan điểm và lối sống cá nhân của một số người viết nhạc, hãy tưởng tượng âm nhạc Việt Nam không có Phạm Duy, Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Nguyễn Văn Đông, Hoàng Trọng, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Nguyễn Ánh 9, Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Trúc Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Lê Hựu Hà, Nhật Ngân v.v. rồi nền âm nhạc Việt Nam với những Bài ca năm tấn của Nguyễn Văn Tý, Trai anh hùng, gái đảm đang của Đỗ Nhuận, Hò kiến thiết của Nguyễn Xuân Khoát v.v. sẽ nghèo nàn và lạc hậu biết bao nhiêu. Các nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân Khoát đều là những tài năng âm nhạc, những nhạc sĩ tiên phong của nền âm nhạc Việt Nam nhưng không giống Văn Cao và Đoàn Chuẩn im lặng, họ chấp nhận làm những con ve để trỗi lên một điệu nhạc tuyên truyền rẻ tiền, buồn tẻ suốt 21 năm trong mùa hè Cộng Sản nóng bức và dài lê thê ở miền Bắc.

Sự hiện hữu và sức thu hút của cờ vàng là một thực tế không thể chối cãi. Những phản ứng tức tối của nhà cầm quyền CSVN trước việc các thành phố lớn nhỏ ở Mỹ nối tiếp nhau công nhận lá cờ vàng cho thấy sự sợ hãi của họ trước một sự thật lịch sử mà họ không còn có thể che đậy, dấu diếm, lừa gạt được ai hay giải thích cách nào khác. Hành động điên cuồng, man rợ, vô nhân của đảng CS khi kết án một cô gái chỉ 21 tuổi phải giam hãm sáu năm tới của đời con gái trong vòng lao lý và ba năm quản thúc chỉ vì em in và dán lá cờ vàng, một lần nữa, chỉ tự tố cáo sự sợ hãi của đảng CS đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ. 

Khi còn nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy lá cờ vàng từ góc độ của một sân trường trung học. Khi lớn lên, học hỏi thêm, tôi nhìn lá cờ vàng từ góc độ của chế độ mà tôi đã sống, từ miền Nam tự do mà tôi đã ra đi, từ đất nước mà tôi yêu quý. Và hôm nay, tôi nhìn lá cờ vàng từ trái tim trong sáng của Phương Uyên, một em bé gái Việt Nam vừa mới lớn và đang đập theo nhịp đập của tương lai dân tộc. Chính nghĩa dân tộc rồi sẽ thắng. Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới ôm ấp và đeo đuổi giấc mơ tự do dân chủ cho chính mình và tương lai của con cháu mình. Không ai xót thương và cứu vớt dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Nếu tất cả chúng ta cùng biết đau một nỗi đau chung và cùng biết đeo đuổi một giấc mơ Việt Nam như Nguyên Kha, Phương Uyên đang theo đuổi, tôi tin cuộc vận động tự do dân chủ và phục hồi chủ quyền đất nước sẽ sớm thành công. Điểm hẹn huy hoàng của lịch sử có thể chỉ còn năm phút nữa nhưng nếu không ai đứng dậy và bước đi, năm phút sẽ qua nhanh và mục tiêu không bao giờ đạt đến. Hãy đứng lên và cùng đi với Nguyên Kha, Phương Uyên và tuổi trẻ Việt Nam.


Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Một tấc đường, một giải khăn tang. Bình Long máu đỏ, nhuộm cờ vàng

 | 

Một tấc đường, một giải khăn tang. Bình Long máu đỏ, nhuộm cờ vàng

(Bài thứ ba của loạt bài Bình Long Anh Dũng)
An Lộc
Đính chính sai lầm
Chiến sử viết lại 40 năm sau, trí óc đã mỏi mòn. Lại viết ào ào mỗi tuần nên có nhiều thiếu sót. Xin nhờ bà con nhắc hộ, sau này in thành sách sẽ sửa lại. Bài thứ nhất chúng tôi viết về cô gái Bình Long. Đoạn cuối theo lời người kể chuyện nên đã ghi rằng sau trận 72, quân ta rút khỏi An Lộc. Thực ra trong ba quận thuộc tỉnh Bình Long, địch chỉ chiếm giữ được Lộc Ninh. Bên VNCH vẫn còn bảo vệ An Lộc và Chân Thành cho đến 75.
Bài thứ hai có tựa đề: Tro tàn An Lộc. Tay cầm cuốn phim của Trung tâm điện ảnh quốc gia mà khi hạ bút viết lại ghi là Nha quốc gia điện ảnh. Rồi viết thêm rằng không thấy có bài ca viết về Bình Long. Thực ra cũng đã có bài ca nói chung về các chiến dịch mùa hè từ Quảng Trị đến Bình Long. Bài của tác giả Nguyễn Tấn Lộc nhắc đến quốc lộ 13 có đoạn đường máu 26 cây số từ An Lộc về Chân Thành. Đợt đầu tiên dân chúng di tản khỏi An Lộc, ra đi 3.000 dân, về đến Chân Thành chỉ có 500 người.
Đợt di tản liều lĩnh lần thứ hai giữa tháng 5-72 trên 10.000 dân chạy loạn, chết thêm 2.000 người ở dọc đường.
Như vậy trận Bình Long cũng có đại lộ Kinh Hoàng, nhưng chẳng có ai đặt tên. Tên không có, nhưng đã có câu thơ. Một chiếc khăn tang một tấc đường (?) Xin được viết lại:
Một tấc đường, một giải khăn tang.                                                                                                
Bình Long máu đỏ, nhuộm cờ vàng
Tháng 4-1972, pháo cộng sản cường tập bắt đầu. Địch tấn công thế mạnh như vũ bão từ biên giới Cam Bốt đánh qua. Chiếm Lộc Ninh trong trận biển người có xe tăng ào ạt sau đại pháo. Sư đoàn 5 một sớm một chiều đã gãy mất một trung đoàn. Chiến binh bên ta, phần tử trận, mất tích, phần bị bắt và một số chạy về An Lộc. Cùng một lúc cộng quân đem 10.000 bộ đội có cả chính quy miền Bắc khóa chặt quốc lộ 13 ở phía Nam.
Tại hội nghị Paris, Nguyễn Thị Bình tuyên bố ngày 15 tháng 4 Mặt trận giải phóng miền Nam sẽ cắm cờ xanh đỏ tại An Lộc. Bình Long sẽ là thủ đô của của chính phủ cách mạng. Trong hoàn cảnh đó hơn 20 ngàn dân An Lộc ai cũng muốn chạy ra khỏi vòng vây. Từ Chân Thành cuối tháng 5-72 có một thanh niên thí mạng cùi nhất định tìm cách vào An Lộc.
Đó là phóng viên chiến trường Nguyễn Cầu. Anh vừa thoát chết từ Bastogne, miền Trung giữa tháng 5-72.
Vào sinh ra tử
Ông Nguyễn Cầu hiện làm nghề quay phim quan hôn tang tế tại San Jose, năm nay 76 tuổi. Người quê Long Xuyên ngày xưa lên Saigon học hết tú tài rồi vào làm công chức bộ kinh tế. Cuộc đời tưởng chừng mãi mãi sáng vác ô đi, tối vác về. Nhưng một ngày bỗng nổi chí làm trai muốn giang hồ ngang dọc, bèn thi vào lớp phóng viên chiến trường do Mỹ đào tạo cho quân đội VNCH.
Khóa đặc biệt và duy nhất được bên thông tin Mỹ huấn luyện, phát lương và trang bị phương tiện. Vừa học nghề vừa học Anh ngữ hơn một năm dài. 25 khóa sinh tốt nghiệp ra trường chia nhau về các quân khu. Các chàng trai trẻ trở thành phóng viên cầm máy quay phim đi thu hình trên các mặt trận. Đó là năm 1962. Những anh này, lính không phải lính mà quan cũng không phải quan. Công chức cũng không phải, mà quân nhân cũng không đúng. Lúc thì mặc bộ binh, lúc thì mặc nhảy dù, lúc thì TQLC và cả quân phục biệt động quân. Đi theo đơn vị nào thì mặc theo binh đoàn đó. Mặc nhầm là bị bắn lộn như không. Không trang bị vũ khí, chỉ có giấy bút, máy quay phim, pin và phim phòng hờ. Trên ngực có bảng tên và dấu hiệu báo chí. Trong người có thẻ của Mỹ để được ưu tiên đi máy bay. Và cuộc đời của phóng viên Nguyễn Cầu lên đường từ 1962 cho đến khi thực sự đứt phim 1975.
Trải qua 13 năm chinh chiến, ông đã đi khắp các mặt trận toàn là thứ dữ. Đánh Hải Lăng với Thủy quân lục chiến. Lam Sơn 119 ông vào Hạ Lào với Nhẩy dù. Thoát chết ở đồi 30. Nguyễn Cầu cũng có dịp thử lửa Khe Sanh với biệt động quân. Vào Bastogue với sư đoàn 1, sang Cam bốt với quân đoàn 4. Bay khắp vùng trời với Không quân và đặc biệt quay trận Hoàng Sa với Hải quân. Sau cùng ông vào An Lộc với sư đoàn 5.
Từ Bastogne đến An Lộc
Nguyễn Cầu, Sài Gòn 1962
Tháng 3-1972  Hà Nội chuyển quân vào Nam. Tháng 4 Bắc quân tổng tấn công trên 3 mặt trận. Hoả Tuyến, Cao Nguyên và Bình Long. Ngoài Trung, sư đoàn 3 bộ binh tan hàng. Lần đầu tiên căn cứ Caroll cấp trung đoàn phải đầu hàng. Cộng sản chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Trong Nam, địch tràn ngập phòng tuyến Lộc Ninh. Sư đoàn 5 tổn thất một trung đoàn. Cùng một lúc, căn cứ Bastogne của trung đoàn 54 bị tràn ngập, sư đoàn 1 đưa 2 trung đội của trung đoàn 3 trực thăng vận vào thẳng căn cứ để thăm dò. Phi công trực thăng còn lắc đầu lạnh cẳng. Nhưng có lệnh thì cứ bay. Lính sư đoàn cam chịu phần số lặng lẽ lên tàu. Cần một phóng viên đem máy đi quay. Nguyễn Cầu chợt quên mất vợ 4 con ở Saigon, giơ tay nói với ông tướng để tôi đi. Phạm Hậu đứng khóc ở bãi đáp lúc tiễn đưa. Hậu nói với Cầu đây là thí quân. Ráng mà trở về. Đó là ngày 15 tháng 5-1972. Ấy thế rồi Nguyễn Cầu vào được Bastogne mà không phải là vào sinh ra tử. Thiếu úy Hiệp chỉ huy liên đội tiền phong vào mặt trận khi ra được lên trung úy. Phóng viên Nguyễn Cầu đem ra được những thước phim quay trực tiếp tại chiến trường. Anh sống những phút vinh quang khác biệt. Trực thăng bốc ngay về Giạ Lê, bộ tư lệnh sư đoàn của tướng Phú, gặp đại tướng Cao Văn Viên trong phái đoàn Saigon ra thăm đón chào khen ngợi. Ông cho phóng viên Nguyễn Cầu quá giang máy bay của tổng tham mưu trưởng mà đem phim về Saigon. Tại Tân Sơn Nhất, đại tá chánh văn phòng lái xe Jeep đưa thẳng đến đài truyền hình. Các chuyên viên sẵn sàng tráng phim, chắp nối để chiếu cấp kỳ. Cả tổng cục ai cũng bắt tay khen ngợi. Nguyễn Cầu cũng được khen bằng tưởng lục. Ngày nay ông cũng không còn nhớ là tưởng lục gì.
Một tuần sau, cuối tháng 5-73 phóng viên vác máy vào An Lộc.
Nằm quan tài vào An Lộc
Nguyễn Cầu, San Jose 2011
Ông già phóng viên chiến trường thời xa xưa bây giờ ngồi trong phòng làm việc bên những bộ máy quay phim tân kỳ của thế kỷ 21 tại San Jose mà nhớ lại chuyện cũ. Suốt một cuộc đời phóng viên ông đi với các sỹ quan cấp úy. Rồi các vị này thành tá, thành tướng. Nhưng phóng viên Nguyễn Cầu thì muôn đời cũng chỉ là phóng viên. Đi riết rồi chỗ nào cũng quen biết hết. Ông tư lệnh nào, ông tướng nào thấy anh phóng viên vác máy quay phim cồng kềnh xông xáo thu hình giữa khói lửa mịt mùng đều có cảm tình và hết lòng giúp đỡ.
Tháng 4-1972 ba ông phóng viên cùng khóa đều có mặt tại Chân Thành. Đây là  trạm dừng chân an toàn nhất trên đường vào phòng tuyến An Lộc. Trung tướng Minh và bộ tư lệnh tiền phương của quân đoàn III đóng ở đây. Nguyễn Cầu tìm cách đi theo Nhẩy dù để mở đường máu. Suốt tuần lễ, lính Dù bị chặn đứng và thiệt hại nặng. Hoàn cảnh An Lộc giữa vòng vây oan nghiệt đã đành. Nhưng mặt trận đường 13 bên ngoài quả thực cũng hết sức gian khổ. Địch bám chốt bên trái và đại đơn vị đông đảo bên mặt. Pháo cường tập ngày đêm mà phòng không thì ác liệt vô cùng.
Nằm với Mũ đỏ thì không biết bao giờ mới được vào bên trong để lấy hình ảnh cho Sài Gòn, Nguyễn Cầu xin với ông tư lệnh quân đoàn cho phép liều mạng đi theo trực thăng tiếp tế và tản thương. Tiếp tế giữa các trận pháo kích trên sân bay. Trực thăng bay là là rồi đạp hàng xuống. Nguyễn Cầu nằm vào trong một thùng gỗ tiếp tế để lính Không quân đạp xuống. Chuyện tưởng như đùa mà hóa thật.
Anh em hỏi đi hỏi lại là có thực sự Cầu nằm trong quan tài mà vào An Lộc hay không. Thùng gỗ rớt nhẹ xuống sân bay, chẳng cần ai phá cũng đã rời ra từng mảng. Phóng viên Nguyễn Cầu cầm máy bò vào phòng tuyến và lập tức được đưa đến hầm chỉ huy. Anh trở thành phóng viên đầu tiên vào được An Lộc. Chuẩn tướng Lê Văn Hưng rất hài lòng bèn cho anh phóng viên liều mạng được nằm trên chiếc ghế bố duy nhất của ông trong đêm đầu tiên.
Thiên hạ vẫn thắc mắc về cái cách Nguyễn Cầu vào An Lộc, dù rằng thực sự anh đã vào. Đã sống với các đơn vị, đã ăn cơm dã chiến với Biệt cách Dù, đã đi theo các đại đội của sư đoản 5, nhưng cái lối vào bằng quan tài thì quá đặc biệt. Hỏi là có ai làm chứng được không. Nguyễn Cầu buồn rầu nói rằng có mấy bạn cùng khóa biết chuyện nhưng nay chúng nó chết hết cả rồi.
Chưa bao giờ họp khóa
Cái khóa phóng viên chiến trường không tên, tốt nghiệp 25 người bây giờ đếm lại chỉ còn trên đầu ngón tay của một bàn tay. Trải qua 13 năm chinh chiến, phần lớn chết trận cả rồi. Mặt trận vùng I là nơi phóng viên bị chết nhiều nhất. Đỗ Văn Môn chết tại hỏa tuyến. Ngô Minh Liêm chết ở Đông Hà. Hồ Văn Đực tại đại lộ kinh hoàng. Riêng Trần Văn Nghĩa bị 18 viên đại liên xẻ dọc từ đầu xuống chân ở Quảng Trị. Lên cao nguyên thì Vũ Tiêu Giang chết ở Plei Me. Đặng Văn Thiện chết trận Ấp Bắc. Rồi đến Đức Cơ, Đồng Xoài nơi nào cũng có phóng viên chiến trường hy sinh. Trong trận Bastogne có Trần Văn Hiệt vào thay Nguyễn Cầu nhưng không bao giờ trở lại. Trong chuyến bay vào An Lộc cũng để thay thế Nguyễn Cầu thì Nguyễn Ngọc Bình chết trên trực thăng. Trần Văn Tuấn chết ở núi Bà Đen năm 68. Riêng có Nguyễn văn Giáo là nổi danh vì cùng nổ tung trên trực thăng với tướng Đỗ Cao Trí. Thái Khắc Chương mất tích năm 75 khi triệt thoái Pleiku. Trên khắp 4 vùng chiến thuật từ ngày ra trường đến khi bỏ máy, nơi nào cũng có xương máu của bạn cùng khóa.
Ông Cầu nói, nhiều quá, lâu quá không nhớ hết nhưng thật sự gần như cả khoá chẳng còn ai. Nghe nói còn một bạn vàng Nguyễn văn Lang ở Canada. Còn phần lớn chết trẻ. Không ai sống với tuổi già như ông. Khóa của ông ra đời năm 62 coi như không phải là khóa chính thức của quân trường. Khóa năm cha ba mẹ. Ông Cầu buồn rầu kể lại. Thủa nhỏ học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Rồi qua Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Năm 1959 lên Saigon làm công chức bộ kinh tế rồi lập gia đình. Qua 60 thi nhập học khóa phóng viên. Học chữ học nghề hơn một năm dài. Rồi chuyển qua căn bản quân sự. Cả khóa qua Dục Mỹ học chiến tranh rừng núi xình lầy cùng với khóa 16 võ bị. Xong Dục Mỹ qua học Nhẩy dù. Có bằng Dù rồi mới ra trường. Sau này gặp lại anh em khóa 16 võ bị có người đã lên đại tá nhưng phóng viên chiến trường thì suốt đời vẫn là phóng viên.
Hình ảnh quay được của Nguyễn Cầu và các bạn đưa về phía Mỹ thì AP sử dụng rất nhiều. Phe ta thì tổng cục chiến tranh chính trị và bộ thông tin Việt Nam khai thác. Những hình ảnh trên báo Tiền tuyến, Chiến sĩ Cộng Hòa và thời sự của Trung tâm điện ảnh quốc gia là xương máu của anh em. Tuy nhiên trên thực tế chiến công của phóng viên không được lưu tâm. Không có huy chương, không có thăng cấp dù là truy thăng. Đi khắp các mặt trận nhưng gần như tự quyết định lấy phần số của mình. Suốt bao năm qua anh em chưa bao giờ họp khoá.
Vào An Lộc
Vào được phòng tuyến An Lộc, phóng viên Nguyễn Cầu di chuyển từ hầm này qua hầm khác, từ đơn vị này qua đơn vị khác. Kết quả ông đã đem về những đoạn phim hết sức đặc biệt. Ngay sau trận pháo kích kinh hoàng nhất của địch vào bệnh viện tiểu khu và nhà thờ An Lộc, phóng viên đã quay được các xác chết của dân chúng, đàn bà, trẻ em và các ông bà già. Số tử vong cả ngàn người cùng với xác chết vương vãi bên ngoài đã được binh sĩ tập trung và chôn cất 3.000 người tại chỗ.
Những bài báo của thông tín viên Sài Gòn viết lại hết sức thảm thương. Đặc biệt là những trẻ thơ sống sót bị thương bên cạnh xác cha mẹ.
Đoạn phim này về sau đưa ra chiếu đã là các chứng tích về những trận địa pháo của cộng sản. Nhưng đặc biệt hơn nữa, ngày nay cũng tại mồ tập thể này ở An Lộc, chính quyền cộng sản cho xây một tượng đài kỷ niệm với hàng chữ nguyên văn như sau:
Di tích Lịch sử và Văn hóa. Mộ 3000 người.
Nơi an nghỉ của đồng bào thị xã An lộc-Bình Long
bị bom Mỹ hủy diệt mùa hè năm 1972.
Phần tài liệu của khu di tích phổ biến như thế này.
Ngày 6/12/1987 ngôi mộ tập thể này được nhà nước ghi nhận là di tích lịch sử ghi khắc tội ác của Mỹ Ngụy đối với nhân dân Bình Long.
Năm 1988 Chủ tịch nước phong cho Bình Long tước hiệu
Lực lượng vũ trang nhân dân Anh Hùng
Thêm một chuyện khác, cũng tại khu vực hàng ngàn người chết vì pháo kích, có câu chuyện của gia đình em gái nhỏ Nguyễn Thị Bình. Cả nhà em chạy từ Phước Long về An Lộc thì bố bị chết. Anh bị mất tích. Sau trận pháo kích vào nhà thờ đến lượt mẹ chết. Còn lại cô gái Nguyễn thị Bình 14 tuổi và 3 em nhỏ bây giờ luẩn quẩn theo chân anh phóng viên là người duy nhất không phải cầm súng chiến đấu. ….
Sau cùng Nguyễn Cầu bay ra bằng chuyến trực thăng đặc biệt để đưa phim về Saigon. Chị em bé Nguyễn thị Bình được đi theo. Cầu đem đám trẻ về nhà tạm trú. Tướng Lạc, tư lệnh Sư đoàn 9 đọc báo đã gọi cho Nguyễn Cầu, cảm thương hoàn cảnh các em nhỏ mồ côi, ông tư lệnh đã đón các em xuống Sa Đéc, gửi cho các bà Sơ trông nom. Sau này lại thêm người anh 17 tuổi mất tích trở về đoàn tụ với các em.
Đó là câu chuyện Nguyễn Cầu vào An Lộc.
Sau trận 72, anh chàng phóng viên nhiều may mắn đã có dịp vô tình ngồi trong chuyến tàu tiếp tế hải đảo lại quay được một phần của trận Hoàng Sa 74. Cuối cùng là đoạn phim anh quay trên cầu Tân Cảng vào những ngày cuối của tháng 4-1975. Sau khi cộng quân vào Saigon, khai thác các phim ảnh của VNCH để lại, chúng đã đi tìm Nguyễn Cầu, người có tên trong các bộ phim thời sự chiến tranh, trong đó có phim tình cờ quay được cảnh cộng sản pháo kích vào trường Tiểu học Cai Lậy.
Nguyễn Cầu được tin trong đài số 9 nói là cộng sản đang đi tìm tung tích tên phóng viên Mỹ Ngụy, anh bèn trốn về quê chờ đến thập niên 80 mới tìm cách vượt biên. Đến San Jose Nguyễn Cầu trở thành Thuyền nhân Video lo quay phim quan hôn tương tế để xây dựng lại cuộc đời.
13 năm cầm máy biết bao nhiêu hạnh ngộ, biết bao nhiêu gian truân. Người lính không có số quân, không có thẻ bài. Trận nào cũng đánh. Đeo trên người giây 3 chạc với pin và phim ảnh. Nón sắt che đầu và đôi khi nón sắt chỉ che máy hình. Hình ảnh có khi tỏ khi mờ. Khi rõ ràng, khi thì người cầm máy té lăn quay. Máy còn chạy mà người đã nằm xuống đất. Hình không quân từ trên trời. Hình hải quân dưới nước. Hỏi anh ở đơn vị nào, chẳng biết đơn vị nào là chính để trình diện. Khi Việt cộng vào cũng không biết ở loại nào mà khai báo.
Tôi viết về chuyện Nguyễn Cầu 76 tuổi ở San Jose nhưng không phải là ca tụng riêng một người. Tôi muốn tuyên dương cả khóa của ông. 25 người phóng viên chiến trường. Chết gần hết chẳng còn ai. Bây giờ gần như chỉ còn lại một ông già lãng tai. Trước đây rất trẻ trung đẹp trai, nhưng ngày nay vẻ đẹp chỉ còn là kỷ niệm. Ông kể chuyện nhưng cũng có chỗ nhớ chỗ quên. Sư đoàn nọ lẫn với sư đoàn kia, Tư lệnh này thành ra tư lệnh khác, nhưng có một điều này chắc chắn không sai. Cả khóa của ông thẩy đều anh hùng xông trận, nhưng suốt 13 năm chẳng anh nào bắn được một phát súng.
© Giao Chỉ, San Jose
© Đàn Chim Việt

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Bùi Giáng

Người vợ của Bùi Giáng
Vũ Đức Sao Biển
đăng ngày 15/02/2013

(TN Xuân) Đọc thơ Bùi Giáng, người ta nghĩ ông chỉ có những tình yêu viễn mộng. Ít ai biết ông đã có một người vợ đẹp và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm.

Đọc thơ Bùi Giáng, người ta nghĩ ông chỉ có những tình yêu viễn mộng. Ít ai biết ông đã có một người vợ đẹp và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm.

Tháng 7.2012, tôi trở lại thăm quê nhà ông - làng Thanh Châu (xã Duy Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam). Ghé thăm nhà thờ tộc Bùi, được người phụ nữ chăm lo hương khói nơi đây cho xem gia phả của tộc. Qua câu chuyện, tôi khẳng định một điều mới mẻ: Nhà thơ Bùi Giáng đã có vợ. Hình tượng của bà và tình thương yêu, tiếc nuối ông dành cho bà là nội dung chủ đạo trong 4 tập thơ của ông: Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột và Màu hoa trên ngàn (in tại Sài Gòn từ năm 1962 - 1964).
Người vợ của Bùi Giáng
Ảnh: Tư liệu
Bà nhớ lại Bùi Giáng được cha mẹ cưới vợ cho năm 1945, khi ông vừa 19 tuổi. Hôn nhân ngày trước thường do cha mẹ đôi bên sắp đặt. Có lẽ, cuộc hôn nhân của Bùi Giáng cũng không đi ra ngoài quy ước đó. Người phụ nữ giữ nhà thờ tộc Bùi xác nhận: “Chị Bùi Giáng về làm dâu nhà ông bà bác tôi (cụ Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền - cha mẹ ông Bùi Giáng) năm 18 tuổi. Chị là người Duy Xuyên, đẹp lắm, tóc dài da trắng cái chi cũng đẹp. Tên thật của chị là Vạn Ninh”. 
Tất cả thành viên trong gia đình đều quý yêu bà chị dâu trẻ. Ông Bùi Luân - em ruột Bùi Giáng - tỏ lòng quý mến của mình với người chị dâu trong tập thơ Chớp biển của Bùi Giáng in tại Canada năm 1996: “Phải nhận là chị xinh đẹp, cởi mở, vui tính, hồn nhiên… Gương mặt chị, hình ảnh chị đã nổi bật, sáng ngời mãi trong ký ức tôi. Duy có điều bất cứ ai, dù không biết gì nhiều về tướng số, gặp chị là cũng nhận ra ngay: Chị không thể ở lâu với chúng ta trên cõi đời này, dù cõi đời vốn đã ngắn ngủi. Lấy chồng được ba năm, chị đã đột ngột lìa đời lúc mới ngoài hai mươi tuổi… Chị trút hơi thở một cách bình thản”.
Vợ chồng Bùi Giáng được cha mẹ cho một khu vườn đẹp ở làng Trung Phước để lập nghiệp. Trung Phước là thung lũng trù phú ven sông Thu, kế cận mỏ than huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Làng Trung Phước cách Thanh Châu trên dưới ba chục cây số. Có lẽ cuộc hôn nhân của lứa đôi trẻ trung này giữa miền đất Trung Phước không được êm ấm cho lắm. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cưới, người vợ trẻ đã phải lặn lội từ cái thung lũng ngoạn mục nhất đó, xuôi sông Thu Bồn êm đềm với ngàn dâu xanh ngát, về nhà bố mẹ chồng ở Thanh Châu cách hàng mấy chục cây số. Trên chiếc đò bé nhỏ, chàng trai nói với người vợ trẻ:  Nếu em không đổi ý quay về, không bỏ qua chuyện cũ thì tôi sẽ… nhảy ra khỏi đò!
Khách xuôi đò tưởng người con trai đùa dọa người vợ mảnh dẻ. Để nguyên quần áo, ngay lập tức anh mình gieo xuống giữa dòng sông Thu. Và bơi theo đò. Để rồi thả trôi theo dòng nước hết chỗ mấy chục cây số đó, tới tận bến nhà”.
“Bỏ qua chuyện cũ” là chuyện gì? Đó là một chuyện hết sức tức cười và trẻ con. Ông Bùi Luân tiết lộ: “Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi: Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”. Thì ra, Bùi Giáng đã… đi trước thời đại chúng ta về chủ trương… ăn chay. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho cô vợ ăn rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn gà, bò - hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước.
Người vợ qua đời năm 1948 khi Bùi Giáng vắng nhà. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Phút lâm chung, chị không thấy mặt chồng… Tôi chỉ biết là anh có mặt vào phút chót của buổi tiễn đưa chị về nơi an nghỉ cuối cùng - anh đứng bên cạnh chiếc quan tài với vành khăn trắng trên đầu”.
Bùi Giáng yêu vợ nhưng vẫn muốn… bỏ nhà đi chơi. Cũng bình thường như bao nhiêu người đàn ông Quảng Nam lãng mạn khi xa vợ, Bùi Giáng có thể gặp gỡ, giao lưu với những người phụ nữ khác và nhận ra họ vượt trội vợ ông về một vài phương diện nào đó. Thế nhưng, tình yêu và nỗi xót xa dành cho người vợ ở quê nhà thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết: “Mình ơi, tôi gọi bằng nhà/Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”.
Hai năm sau cái chết của người vợ trẻ, ông dẫn một bầy dê lên Nông Sơn chăn thả, ngao du qua những đồi núi, suối khe mơ màng để nhớ thương vợ. Hai năm sau đó nữa, ông gửi bầy dê lại cho… chuồn chuồn và châu chấu, bỏ quê nhà đi chơi tiếp. Ở đâu, ông cũng phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Bài thơ nhớ vợ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm: “Em chết bên bờ lúa. Để lại trên lối mòn. Một dấu chân bước của. Một bàn chân bé con! Anh qua trời cao nguyên. Nhìn mây buồn bữa nọ. Gió cuồng mưa khóc điên. Trăng cuồng khuya trốn gió. Mười năm sau xuống ruộng. Đếm lại lúa bờ liền. Máu trong mình mòn ruỗng. Xương trong mình rả riêng. Anh đi về đô hội. Ngắm phố thị mơ màng. Anh vùi thân trong tội lỗi. Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang”.
Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi biền biệt. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ, đến tha thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc ông nghĩ đến tình yêu của người vợ khổ.
Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi mình bà, đặc biệt những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình: “Đùa với Tuyết, giỡn với Vân. Một mình nhớ mãi gái trần gian xa. Sương buổi sớm, nắng chiều tà. Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?”.
Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng: “Mọi em là mọi sương xuân. Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh”. Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu: “Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc. Nào phải không? Lệ chảy có vui gì? Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc. Nước xuôi dòng, ngàn thu hận ra đi”.
Ông phong tặng người vợ của mình - con mọi nhỏ, lên thành mẹ của giang san: “Em thành Mẹ của giang san. Em là thần nữ đoạn trường chở che”. Thơ ông viết cho vợ càng lúc càng trang trọng. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà vụt trở thành hình tượng cao quý nhất trong lòng ông, trong thơ ông: “Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê. Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề. Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ. Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ”.
Lắm khi ở phương xa, ông nhớ cố quận. Qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện trước mắt: “Trung niên thi sĩ uống trà. Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?”. Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà.
Vũ Đức Sao Biển
Source : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130124/nguoi-vo-cua-bui-giang.aspx