Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

https://www.facebook.com/groups/836054949816181/permalink/24719746851020323/

MỘT CHIẾN BINH ANH DŨNG VÀ TRUNG THÀNH.
——0000——
Harry Trần Ngọc Huế, một chiến binh anh dũng và trung thành
Bài và hình: Ðỗ Dzũng
Ðại úy Harry Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Ðội Huê Kỳ tại Việt Nam, gắn huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc” (Gallantry Cross with Silver Star), sau trận Mậu Thân 1968.
FALLS CHURCH, Virginia (NV) - “Harry Trần Ngọc Huế là một chiến binh lỗi lạc và ông đã phải trả giá đắt cho sự trung thành với tổ quốc mình trong cuộc chiến Việt Nam.” Ðó là lời mà Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ James Webb (Dân Chủ-Virginia) viết về người cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) này trong một bức thư đề ngày 4 Tháng Tư vừa qua.
Qua một người bạn giới thiệu, tôi được gặp người đàn ông mà nhiều người trong Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Huê Kỳ, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Webb, từng là bộ trưởng Bộ Hải Quân, gọi là “anh hùng của những anh hùng (Hero of the Heroes).”
Tướng cao to, khỏe mạnh, mặc dù tuổi đã ngoài 60, bàn tay trái chỉ còn hai ngón nguyên vẹn, cộng với một vài vết thẹo trên khuôn mặt và phía dưới cằm, ít ai ngờ rằng, con người này đã từng vào sinh ra tử biết bao lần, nhất là cuộc chiến lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và Ðại Nội Huế, hồi Tết Mậu Thân 1968.
Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương.
Vì những hành động anh hùng của mình, ông Harry Trần Ngọc Huế đã được Huê Kỳ tặng thưởng một huy chương “Ngôi Sao Bạc” (Silver Star) và một huy chương “Ngôi Sao Ðồng” (Bronze Star). Ngoài ra, ông cũng được chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương cùng nhiều huy chương cao quý khác. Harry là tên các cố vấn Mỹ đặt cho ông.
Cuộc tái chiếm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh
Là đại đội trưởng Ðại đội Hắc Báo, lực lượng tổng trừ bị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh QLVNCH, Trung úy Trần Ngọc Huế đã khôn khéo và dũng cảm chỉ huy trận chiến một mất một còn với quân đội Bắc Việt để lấy lại quyền kiểm soát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, nơi đầu não chỉ huy tái chiếm lại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.
Người cựu chiến binh này kể: “Lúc đó, Ðại đội Hắc Báo của chúng tôi là Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (Fast Reaction Forces) đóng tại sân bay Thành Nội. Ðêm đó là mùng một Tết và quân đội Bắc Việt đã tấn công nhà đèn, Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, Phú Văn Lâu, Tòa Hành Chính Tỉnh và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1. Ngoài đường phố tràn ngập lính Bắc Việt, phi trường bị pháo kích dữ dội...”
Ông kể tiếp: “Chúng tôi có 6 trung đội, sau khi bố trí quân, tôi về nhà nghỉ. Một lúc sau, thấy pháo dữ dội quá, tôi trở dậy, mặc đồ lính đi. Trong đêm tối, tôi thấy đặc công Bắc Việt đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường.”
“Lúc đó, tôi rất lưỡng lự, không biết có nên đi hay không vì con gái đầu lòng của tôi mới sinh được một tháng. Tôi có thể trở về nhà với vợ con, nhưng nghĩ lại trách nhiệm của người lính và một chỉ huy. Hơn nữa, nếu nước mất nhà tan, thì chưa chắc gia đình tôi yên ổn. Thế là tôi tiếp tục đi phía sau họ để đến phi trường,” người anh hùng này kể tiếp.
Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”
Khi đến sân bay, theo lời ông kể, đặc công Bắc Việt đã tiếp cận bộ chỉ huy Ðại đội Hắc Báo của Trung úy Huế.
“Họ chiến đấu rất hăng say. Họ mặc quần đùi, đeo súng AK bá xếp. Tuy nhiên, các anh em Hắc Báo đã dũng cảm chiến đấu và đánh bật đối phương ra khỏi phi trường. Chúng tôi cứu được hai lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ phi trường, khỏi tay quân địch,” ông Huế kể tiếp.
Sau đó, đơn vị Hắc Báo lại được lệnh của Trung tá Ngô Văn Chung, trưởng phòng 3, Sư Ðoàn 1, qua giải cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, đang bị địch vây hãm.
“Liền đó, tôi nghe trên điện đàm tiếng Trung tá Chung nói: Ðây là lệnh của mặt trời (ẩn danh của Tướng Ngô Quang Trưởng). Nếu không thi hành sẽ bị đưa ra tòa án mặt trận”. Ông Huế kể.
Qua hệ thống vô tuyến chỉ huy, ông Huế cũng nghe được lệnh của Trung tá Chung ra lệnh cho Thiết Ðoàn 7, đồn trú tại An Cựu, đưa xe tăng sang cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn.
“Tuy nhiên, Trung tá Chí, thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, cho sư đoàn biết là hiện tại bộ chỉ huy của ông đang bị pháo và đặc công uy hiếp nặng nề,” ông Huế kể tiếp.
Sau khi ổn định tình hình, Trung úy Huế tập trung anh em Hắc Báo lại và ban lịnh hành quân kế tiếp.
Ông kể: “Tôi nói với anh em rằng, một nửa đại đội phòng thủ phía Nam sông Hương đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và tôi đã mất liên lạc. Nay Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đang bị vây hãm, tình thế thập tử nhất sinh, tất cả đều trông cậy vào Hắc Báo chúng tôi. Vì sự sống còn của anh em và gia đình, vì sự sống còn của đồng bào và thành phố, chúng tôi quyết phải đánh, dù bất cứ giá nào.”
Cựu hắc báo Harry Trần Ngọc Huế đứng cạnh bức hình mà cựu cố vấn David Wiseman đã cầm để đi tìm ông trong một thời gian dài.
Sau khi nghe đại đội trưởng Huế nói, tất cả đều hô to “Xin thề! Xin thề! Xin thề!” và “Huế ơi, có chúng tôi đây!”
“Ðó là lời thề của các chiến sĩ Hắc Báo trước khi xung trận,” cựu đại đội trưởng Hắc Báo cho biết tiếp.
Nhờ sống ở Huế lâu và rất rành đường đi nước bước trong thành phố, nên ông Huế dễ dàng dẫn quân luồn lách qua những ngả đường, đến nơi mà địch hoàn toàn không biết.
Người cựu chiến binh QLVNCH này say sưa kể: “Khi đến bên này Cầu Kho, tôi thấy bên kia cầu, gần cổng chính vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, địch đang lúc nhúc đào công sự, chuẩn bị tấn công. Bên trong bộ tư lệnh không thể nào ra được. Ngoài nhân viên Việt Nam còn có một số cố vấn Mỹ trong đó. Nếu bộ tư lệnh mà bị chiếm là coi như rắn mất đầu. Thế là chúng tôi phải dốc toàn lực đánh một mất một còn với địch.”
Theo ông Huế, Hắc Báo là đơn vị đầu tiên của Sư Ðoàn 1 có súng M16, được coi là tối tân nhất lúc đó. Họ cũng sử dụng súng phóng hỏa tiễn M72, đại liên 30ly và đại bác 57ly không giựt.
“Từ bên này cầu, tôi cho bố trí ba khẩu đại liên bắn trực xạ làm quân địch rối loạn. Cùng lúc đó, chúng tôi dùng cả lựu đạn khói làm địch không thấy đường. Sau khi hy sinh một tiểu đội, chúng tôi chiếm lại cầu và mở đường vào bên trong bộ tư lệnh,” ông Huế kể tiếp như vậy.
Người đầu tiên Trung úy Huế gặp khi vào bên trong bộ tư lệnh là Trung tá Trần Văn Cẩm, tham mưu trưởng sư đoàn. Trung tá Cẩm liền chỉ cho đại đội trưởng đại đội Hắc Báo biết nơi địch quân đang chiếm đóng trong khu vực. Ðó là khu vực Ðại đội 1 Quân Y Sư Ðoàn, bịnh xá và câu lạc bộ.
“Không chần chờ, tôi cho lệnh chiến đấu,” ông Huế kể.
Ðơn vị Hắc Báo dùng lựu đạn đi đến tấn công từng phòng, giết và bắt một số tù binh một cách dễ dàng.
“Chiến thuật của Hắc Báo lúc đó là cận chiến nhằm bắt sống tù binh để khai thác. Nếu không được mới dùng lựu đạn tấn công,” ông Huế cho biết như vậy.
Tôi hỏi: “Làm sao mà đặc công có thể thoát bãi mìn để vào được bên trong bộ tư lệnh nhiều thế?”
“Ðó là một đường cống, lỗ thoát nước. Ðó chính là nơi mà đặc công bò vào,” ông trả lời.
“Sau khi chiếm cửa hậu phía Bắc của thành Mang Cá, tôi thấy một cảnh hãi hùng. Ðịch đang bò lê bò càng dọc theo bên ngoài bờ thành. Thế là các khẩu đại liên của Hắc Báo cứ thế mà ‘quét’ vào. Cuộc chiến bắt đầu từ 10 giờ sáng mà mãi đến 3 giờ chiều mới kết thúc,” ông Trần Ngọc Huế nói.
Ông nói tiếp: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”
Ngay sau đó, ông đã được tặng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc (Gallantry Cross with Silver Star) do chính Tướng Creighton Abrams, tư lệnh Các Lực Lượng Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn lên ngực áo. Cũng trong dịp này, ông được lên đại úy và chính Tướng Ngô Quang Trưởng gắn lon cho ông.
Ngày 19 Tháng Sáu, 1969, Ngày Quân Lực VNCH, ông Trần Ngọc Huế được thăng cấp thiếu tá.
Viên ngọc của “Huế”
Sinh ra và lớn lên tại Huế, cái tên Trần Ngọc Huế của ông còn có nghĩa là “hòn ngọc của Huế xuất phát từ nhà Trần.”
Năm 12 tuổi ông đã vào trường Thiếu Sinh Quân. Sau khi đậu tú tài, chàng thanh niên Trần Ngọc Huế vào trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, khóa 18. Ra trường năm 1963, ông được điều ngay về Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.
Kể từ năm 1969, ông lần lượt làm tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn 1/3, 5/2 và 2/2 thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.
Tháng Ba, 1971, Tiểu Ðoàn 2/2 của ông cùng với các tiểu đoàn khác, dưới sự chỉ huy của Ðại tá Ngô Văn Chung, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 2, được điều động tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với nhiệm vụ đột kích bằng trực thăng vận vào mục tiêu chiến lược Tchepone, Nam Lào. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm và kiểm soát mục tiêu chính của cuộc hành quân, ông Huế sẽ được Tướng Phạm Văn Phú đáp trực thăng xuống gắn lon trung tá và tiểu đoàn của ông sẽ được lệnh hành quân về phía Tây Nam Lào, giải vây cho hai tiểu đoàn 3/3 và 4/3.
Sau khi giải vây được cho tiểu đoàn bạn, Tiểu Ðoàn 2/2 lại bị địch bao vây.
Ông Huế kể: “Lúc đó, pháo bắn vào dữ quá. Tôi bị thương nặng nơi mặt, đầu và cổ. Ban chỉ huy ra lệnh mở đường máu rút lui. Anh em đòi khiêng tôi rút lui, nhưng tôi không chịu. Tôi không muốn anh em bị thiệt hại vì mang tôi đi. Chúng tôi xuống 600 người nhưng chỉ thoát được 50 người. Toàn bộ số còn lại bị bắt hoặc hy sinh. Ðó là ngày 21 Tháng Ba, 1971.”
Sau đó, ông Huế được anh em tù binh khiêng đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh về tới Vĩnh Linh. Phía địch quân đưa ông lên xe lửa và mang ra nhốt tại nhà tù Hỏa Lò. Vài tháng sau, ông bị đưa lên nhốt ở các trại tại Sơn Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lạng Sơn và Cao Bằng.
Ông Huế kể tiếp: “Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết hôm 27 Tháng Giêng, 1973, theo quy định, địch phải thả tôi. Lúc đó, tôi đang ở Kỳ Cùng thì địch đưa về Hà Tây. Sau đó, họ đưa tôi cùng một số anh em khác vào bờ sông Thạch Hãn để trao trả tù binh. Nhưng tự nhiên địch chia chúng tôi ra làm hai nhóm, nhóm bị bắt tại các nơi khác và nhóm bị bắt ở Lào. Lúc đó, tôi đã mường tượng một điều gì đó không tốt.”
“Các anh bị bắt ở Lào là thuộc quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước,” một cán bộ Bắc Việt nói với ông Huế như vậy, theo lời kể của ông.
Ông kể tiếp: “Thế là họ đưa chúng tôi về ngã ba Ðường Thành, Hà Nội, và giam tiếp. Chúng tôi phản đối bằng cách tuyệt thực và cạo đầu. Thế là chúng còng tay và đánh đập chúng tôi. Sau đó, chúng tôi bị đưa đi Yên Bái và nhốt cách ly. Kế đến, chúng lựa ra 11 người đầu não, trong đó có tôi, đưa lên nhốt ở Cao Bằng.”
“Năm 1974, chúng tôi bị đưa về Nghĩa Lộ làm trại cải tạo chuẩn bị đón thêm tù binh. Sau đó, chúng tôi lại bị đưa trở lại về Yên Bái để làm đường chiến lược Tây Bắc,” ông kể tiếp.
Năm 1978, khi Việt Nam rục rịch chiến tranh với Trung Quốc, ông Huế lại bị đưa về Nam Hà. Ðến Tháng Tư, 1982, ông được chuyển về Hàm Tân. Tháng Bảy, 1983, ông được thả.
Về Sài Gòn, ông bị quản thúc tại gia trong nhiều năm cho đến năm 1991, ông sang Hoa Kỳ diện cựu sĩ quan chế độ cũ.
Cuộc sống mới tại Huê Kỳ.
Hồi ở Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 1, ông Huế có một người bạn thân là David Wiseman, lúc đó là cố vấn Mỹ. Ông Wiseman cũng từng bị thương ba lần tại Việt Nam và rất cảm kích tinh thần chiến đấu của người bạn Trần Ngọc Huế.
Sau năm 1975, ông David Wiseman không biết người bạn của mình sống chết ra sao. Ông cầm tấm hình của ông Huế đi khắp vùng thủ đô Washington D.C. và đưa cho mọi người xem. Mỗi lần ông đưa tấm hình ra, ông đều nhận được một cái lắc đầu.
Cho đến một hôm, ông Wiseman tham dự một buổi tiệc gây quỹ của Hội Gia Ðình Cựu Tù Nhơn Chánh Trị Việt Nam tại Virginia và gặp ông Ngô Ðức Am, em rể của bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch hội.
Thật là may mắn cho ông Wiseman vì ông Am chính là người ở chung trại tù với ông Huế.
Sau khi xem tấm hình, ông Am cho ông Wiseman biết ông Huế vẫn còn sống ở Việt Nam. Thế là ông Wiseman tìm cách liên lạc với ông Huế.
Việc đầu tiên là ông Wiseman gởi cho ông Harry một bức thư ngắn trong đó kèm theo năm tờ giấy $20.
Bức thư chỉ có vài hàng: “Harry, tôi biết anh còn sống. Tôi đã tìm anh 20 năm nay. Tôi sẽ tìm mọi cách đưa anh sang Mỹ. Nếu anh qua Mỹ tôi sẽ giúp. Nếu anh muốn ở lại, tôi sẽ gởi tiền về giúp. Anh còn thích hút thuốc Salem không?”
Khi đến Huê Kỳ năm 1991, chính ông Wiseman là người ra đón gia đình ông Huế tại phi trường Washington National Airport. Sau đó, ông Wiseman lo mướn nhà cho gia đình ông Huế, giúp mua sắm một số vật dụng cần thiết.
Theo ông Huế cho biết, ông Wiseman đã qua đời cách đây bốn năm.
Kể từ khi biết Harry đến Huê Kỳ, các cố vấn Mỹ, mà nhiều người sau này trở thành bạn thân và coi Harry như anh em ruột, gọi điện thoại và đến thăm tới tấp. Ai cũng muốn giúp ông ổn định cuộc sống mới.
Năm 1994, nhờ bạn bè Mỹ giúp đỡ, cựu chiến binh Trần Ngọc Huế và ba cô con gái, Coco, Vicky và Elly, vào làm cho ngân hàng Navy Federal Credit Union cho đến nay.
Một người lính đầy danh dự
Dù trong hoàn cảnh nào, cựu chiến binh Harry Trần Ngọc Huế luôn giữ được khí tiết và danh dự của một người lính QLVNCH. Vì thế, ông được nhiều người rất kính nể.
“Mỗi người có một cách sống riêng. Bản thân tôi luôn sống với danh dự của một quân nhân QLVNCH. Người ta (các cố vấn Mỹ) đã rời bỏ quê hương sang giúp mình thì mình phải giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Sống với họ phải sống xứng danh quân đội VNCH. Vì thế, tôi có những cảm tình rất khó tin với các cố vấn Mỹ,” ông Huế chia sẻ như vậy.
Hài cốt nạn nhân của Việt cộng Tết Mậu Thân năm 1968
Ông Ned Devereaux, cố vấn cũ và từng bị thương với ông cố vấn Wiseman và ông Huế ngày 8 Tháng Mười Một, 1970, cho biết: “Khi tôi gặp Harry lần đầu tiên, tôi biết ngay ông là một người lính chuyên nghiệp, một sĩ quan chuyên nghiệp, một người mà khi ra lệnh tôi sẽ theo ngay, không thắc mắc. Harry đã làm tôi cảm thấy mình là một thành viên trong gia đình quân đội của ông. Những gì ông làm đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng.”
“Nếu phải viết một câu về Harry, tôi sẽ viết, Harry thiệt sự là một anh hùng, một người trung thành với tổ quốc, cấp trên, gia đình và binh sĩ của mình và tôi coi Harry như một người anh em cùng huyết thống và thiệt sự kính nể ông,” ông Devereaux viết như vậy trong email gởi cho tôi.
Ông Thái Quang Ty, một trung sĩ đại đội Hắc Báo tham gia trận đánh lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, đang sống tại thành phố Atlanta, Georgia, kể: “Anh Huế là một chỉ huy tài giỏi và mưu lược. Lúc tôi ở cùng đơn vị với anh, Hắc Báo đánh đâu thắng đó, chưa thua một trận nào. Ở mỗi trận đánh, anh đều quan sát trước địa hình trước khi giàn quân. Các chỉ huy khác thường xua binh sĩ đi trước, riêng bản thân anh lúc nào cũng đi sát binh sĩ. Chính vì vậy làm cho tinh thần anh em hăng say.”
Qua điện thoại, ông Richard Weyand, cố vấn đại đội Hắc Báo từ năm 1967 đến 1969 và hiện sống tại thành phố Kenosha, Wisconsin, nói: “Harry là người dấn thân nhất cho cuộc chiến. Cách chỉ huy của ông, sự trung thành của ông và sự can đảm của ông làm tôi tự hào khi được làm việc với ông trong hai năm trời.”
Một cố vấn khác của đơn vị Hắc Báo, ông William Bolt, hiện là trung tướng hồi hưu sống tại thành phố Columbia, South Carolina, kể qua điện thoại: “Trong một trận đánh tại phía Nam thành phố Huế vào cuối năm 1968, chính ông Harry đã cõng ông Richard Weyand ra sau khi ông này bị thương trong một bãi mìn. Harry quả thực là một người can đảm. Ông là một người yêu nước và là người hy sinh nhiều nhất cho đất nước của ông mà tôi được biết.”
Thủy quân lục chiến Mỹ tại Huế, Tết Mậu Thân năm 1968.
Khi Giáo Sư Sử Học Andrew Wiest, trường đại học University of Southern Mississippi, chuẩn bị viết tác phẩm “Vietnam's Forgotten Army, Heroism and Betrayal in the ARVN,” ông vô tình biết được Harry Trần Ngọc Huế qua ông Jim Coolican, cựu Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và là cố vấn của ông Huế hồi Tết Mậu Thân 1968.
Giáo Sư Wiest kể: “Tôi sang thăm Việt Nam năm 2000 và thấy rất nhiều. Một điều tôi ít thấy nói đến là QLVNCH. Về Mỹ tôi quyết định viết một cuốn sách về đề tài này. Trong lúc nghiên cứu tìm tài liệu, nhiều người cho tôi biết phải tìm và viết về Harry Trần Ngọc Huế. Thế là tôi nhờ cựu cố vấn Jim Coolican giúp tôi.”
“Tôi nghĩ Harry là một biểu tượng xứng đáng nhất của Việt Nam và Hoa Kỳ. Cũng như bao nhiêu người khác sau chiến tranh, đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng. Giờ đây, cả ba cô con gái của ông đều tốt nghiệp đại học và có việc làm ổn định. Harry đã thực hiện được giấc mơ Mỹ của mình,” giáo sư này nói tiếp.
Ông kết luận: “Harry là người yêu nước nhất mà tôi gặp từ trước đến nay.”
Vào Tháng Mười Một tới đây, Giáo Sư Andrew Wiest sẽ cho ra mắt tác phẩm nêu trên.
Alle reacties:
Jij en 22 anderen

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2025

 https://www.voatiengviet.com/a/tham-sat-mau-than-o-hue-khong-hieu-sao-viet-cong-ac-nhu-vay-/6954079.html

 

Thảm sát Mậu Thân ở Huế: ‘Không hiểu sao Việt Cộng ác như vậy’

Một người lính Việt Nam Cộng hòa từng chiến đấu ở Huế trong trận Mậu Thân năm 1968 đã kể với VOA những gì mà ông đã thấy và đã nghe về vụ thảm sát đẫm máu nhất trong chiến tranh Việt Nam do quân Bắc Việt tiến hành.

Năm này là tròn 55 năm sự kiện Tết Mậu Thân mà phía cộng sản gọi là ‘Tổng tiến công và nổi dậy’ – chiến dịch đánh vào các đô thị lớn ở miền Nam ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán vào ngày 31/1 năm 1968 và Huế là nơi mà họ đã giành được quyền kiểm soát trong gần một tháng.

Theo số liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì đã có tổng cộng trên 4.000 người chết, chủ yếu là bị chôn sống trong các hố chôn tập thể, ở Huế trong giai đoạn này. Tuy nhiên, cho đến giờ, chính quyền của Đảng Cộng sản vẫn một mực phủ nhận là đã xảy ra thảm sát và cho rằng các nạn nhân thiệt mạng do bom đạn Mỹ sau đó mới được chôn cất.

Vào thời điểm xảy ra biến cố đó, nhà văn Phan Nhật Nam, cựu binh của quân lực Việt Nam Cộng hòa, đang chiến đấu ở Quảng Trị thì được trực thăng đưa về lại Huế để giành lại thành phố này, ông nói với VOA từ bang California, Mỹ.

‘Tàn ác với dân thường’

Bản thân ông Nam cũng có người thân và người quen bị chôn sống trong đợt thảm sát hàng loạt này, ông cho biết.

“Xóm nhà tôi ở số 3 Bí đường Tô Hiến Thành là diễn trường của bị kịch Mậu Thân ở Huế. Từ nhà tôi xuống trường Gia Hội (địa điểm phát hiện nhiều hố chôn người) nơi tôi học vỡ lòng không xa,” nhà văn này nói.

Theo lời ông kể thì chú ruột của ông tên là Phan Văn Cần, vốn chỉ là ‘một ông cảnh sát đứng chỉ đường’ và người hàng xóm sát vách tên là Phan Bản Soạn, vốn chỉ là ông thợ may, đều bị quân cộng sản lùa đi chôn sống.

“Em ruột tôi là người đi đào những cái hố đó mà không biết là đào để chôn người. Từ trường Gia Hội, tiếng la hét của những người bị chôn sống vang dội đến xóm Gia Hội,” ông kể lại những gì mà ông đã nghe gia đình ông kể lại sau này.

“Tôi có thể kể hàng chục, thậm chí hàng trăm người mà tôi biết đã bị chôn sống,” ông nói. Cho đến bây giờ, dù đã hàng chục năm sau, biến cố đó vẫn để lại trong lòng ông những câu hỏi không có lời giải đáp.

“Tôi vẫn canh cánh trong lòng tất cả những bi thảm đó với câu hỏi tại sao con người ta có thể ác với nhau như vậy? Tại sao người cộng sản có thể tàn nhẫn với chính đồng bào của mình như vậy, những đồng bào vô tội,” ông giãi bày.

Ông Nam khẳng định phần lớn các nạn nhân bị thảm sát ‘đều là dân thường’ và việc sát hại họ là ‘hoàn toàn vô ích’ nhìn từ quan điểm quân sự.

Ông lên án việc chính quyền trong nước ca ngợi những sự kiện ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân và nói rằng nếu ông có dịp gặp được các lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì ông sẽ hỏi thẳng: “Tại sao các ông có thể giết người một cách tỉnh táo như vậy?”

Ông phản bác lập luận rằng các nạn nhân bị bom Mỹ giết hại sau đó mới được đem chôn. “Bom Mỹ nào dội xuống trường Gia Hội? Nếu bị bom Mỹ thì thi thể đã bị nát bét hết,” ông nói.

Nhà văn này cho biết ông đã từng chứng kiến các hành động của quân cộng sản từ lúc còn ở chiến khu Việt Minh trước năm 1954 cho đến Mùa hè đỏ lửa năm 1972 và đợt tổng tiến công năm 1975 nhưng ‘ít nhất sự tàn bạo là có thể hiểu được vì đó là chiến trường, ở Huế vào Tết Mậu Thân toàn là dân thường’.

‘Bước ngoặt chính trị’

Theo lời ông thì quân đội Việt Nam Cộng hòa đã ‘bị bất ngờ’ khi quân Bắc Việt phát động chiến dịch Tổng tiến công vào dịp Tết Mậu Thân. Vào lúc đó, ông nằm trong tiểu đoàn 9 nhảy dù.

Ông cho biết các tiểu đoàn nhảy dù 9, 7 và 2 đã có mặt ở Huế từ mùa đông năm 1967, nhưng đến buổi chiều ngày 28/1, tức là ngày Giao thừa Tết Nguyên đán, thì các tiểu đoàn này bị điều đi. “Nếu giữ nguyên sự bố trí như trước Tết Mậu Thân thì chắc chắn đã không có sự xâm nhập của quân cộng sản vào Huế,” ông khẳng định.

Đơn vị ông được đưa trở lại Huế vào ngày mùng 4 Tết và đến ngày 24/2 thì ‘thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 bộ binh mới chiếm lại được Huế và thượng kỳ trên kỳ đài’, ông cho biết.

Theo lời ông thì chiến sự ở Huế ‘không khốc liệt’ vì quân cộng sản bố trí ở đó không phải ở cấp độ sư đoàn ‘mà chỉ có các tiểu tổ, các đơn vị đặc công mà thôi’.

“Xét về mặt cường độ mà nói thì trận Mậu Thân không phải là trận chiến lớn. Tuy nhiên, nó có tác động chính trị lớn là khiến người Mỹ phải ngồi lại nói chuyện với Bắc Việt,” ông nói, ý đề cập đến Hội nghị Paris vốn đã khởi động từ năm 1968.

Tuy nhiên, trên quan điểm quân sự thì ông cho rằng quân cộng sản ‘đã bị đánh tan nát’ trong trận Mậu Thân khi mà lực lượng vũ trang Mặt trận giải phóng miền Nam bị thiệt hại nặng và cộng sản Bắc Việt có sự điều chỉnh toàn diện.

“Khi chúng tôi phản công ở các mặt trận ven đô Sài Gòn, chúng tôi đã đánh cho họ tan tác hết,” ông nói và dẫn ra việc một trung đoàn quyết thắng của cộng sản đã phải đầu hàng tiểu đoàn 6 của thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa ở Mặt trận Cây thị vì đã bị cắt đứt hoàn toàn, không có quân tiếp viện hay yểm trợ.

Sau trận đánh Mậu Thân đó, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã được trang bị vũ khí tối tân hơn, theo lời người cựu chiến binh này, trong khi quân Bắc Việt rút ra bài học là thay vì rải lực lượng ra đánh rộng khắp trên 40 thành phố thì sau này họ chỉ ‘tập trung đánh vào một vài địa điểm’.

Theo lời ông thì phía cộng sản kéo được phía Mỹ ngồi vào bàn đàm phán do tác động của vụ tấn công vào Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn trong trận Mậu Thân. “Cuộc đột kích đó chỉ là một tiểu đội, về mặt quân sự không đáng là bao nhiêu nhưng nó có tác động chính trị rất lớn,” ông nói.

Kết quả chính trị thứ hai đối với quân Bắc Việt là ‘Mặt trận Giải phóng miền Nam đã được nâng lên thành Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, ngồi xuống nói chuyện tay đôi với Việt Nam Cộng hòa’, cũng theo lời nhà văn này.

Nhận định về thảm sát Mậu Thân ở Huế, ông Phan Nhật Nam cho rằng đó ‘không chỉ là tội ác đối với Huế, đối với miền Nam mà là tội ác đối với cả dân tộc Việt Nam’.

Do đó, ông cho rằng nếu chính quyền Việt Nam chân thành muốn hòa giải thì phải thừa nhận tội ác này và ‘phải có một lần đại giải oan cho các nạn nhân’.

“Không hiểu sao họ có thể thù dai như thể, có thể trơ trẽn phủ nhận sự thật như thế,” ông chỉ trích.


 Lính Việt Nam Cộng hòa và lính Mỹ phản công quân Bắc Việt trong Tết Mậu Thân năm 1968

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

 

Nghệ thuật chôn sống

Tuấn Khanh

Không lâu sau khi có lá thư được cho là của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phát đi, khẳng định rằng ông không có mặt ở Huế vào Xuân Mậu Thân 1968, sự kiện này đã làm bùng phát nhiều lời bàn trên các trang mạng, báo chí…

Thành phố Huế tan hoang hôm 25 Tháng Hai, 1968, sau khi Cộng Sản Bắc Việt tấn công trong Tết Mậu Thân. (Hình: Bob Wildau/AFP via Getty Images)

Cũng có không ít người đứng ra, nói rằng nếu như vậy thì cần giải oan cho ông Tường khỏi vũng máu nhầy nhụa của cuộc thảm sát thường dân ở Huế. Cuộc thảm sát mà không có sự che đậy nào có thể làm mất hết mùi tanh của máu, của nỗi đau và sự kinh hoàng về cái gọi là “quân cách mạng” vào thời điểm đó, ở Huế.

Ghê sợ nhất, từ các bài tường trình lưu trữ của hãng AP, của ABC News… và từ cả các quyển sách ghi lại từ các phóng viên và người trong cuộc lúc đó, là chuyện kể về các màn chôn sống đồng loại. Vì lý do gì đó, những người bị chôn sống có dây kẽm đâm xuyên qua chuỗi các lòng bàn tay để tránh chuyện ai đó có thể chạy thoát. Thống kê không đầy đủ từ báo chí nước ngoài nói rằng có khoảng 5,000 thường dân đã chết im lặng, chết tức tưởi như vậy, khi tay không có vũ khí và cũng không có ý định kháng cự với “quân cách mạng.”

Một người bạn trên Facebook hỏi rằng tôi có ý kiến ra sao về lá thư của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi đã trả lời rằng mình không cần phải nói thêm gì nữa, vì đã có quá nhiều lời bình luận về chuyện này trên trang của tôi, từ những người rất hiểu biết. Mục đích chính viết xuống của tôi, cũng không phải là tranh cãi với ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, mà chỉ là muốn làm đậm thêm sự thật.

Trong những ngày rầm rĩ cái gọi là “chiến thắng Mậu Thân” của báo đài nhà nước, có những ngôn luận rất chủ đích, được tung ra trên mạng xã hội rằng những cái chết của đồng bào ở Huế là bịa đặt của bọn phản động. Tôi được nhìn thấy những đường dẫn, những bài viết không được tỏa rộng lắm – cũng như không được hưởng ứng nhiều, nói rằng “bọn ba que lại dựng lên những chuyện này.” Những đường dẫn ấy, có kèm cả những bức hình người dân Huế sau đại nạn ấy đang đào bới tìm xác người thân bị chôn sống. Chắc chắn, lớp trẻ dại tham gia làm tuyên truyền viên không thể tự mình nghĩ ra những cách nói ngu xuẩn và điên cuồng như vậy, nếu không được hướng dẫn như vậy từ những chính trị viên của chúng.

Vì thế, không có gì xác minh câu chuyện thảm sát Huế 1968 từ “quân cách mạng” là có thật – thật đến từng chữ, như cách nhà văn Nguyễn Quang Lập đã mô tả về hồi ký của ông Nguyễn Đắc Xuân – bằng cách đặt lên mọi sự tuyên truyền khốn nạn, bằng chính bức thư xin lỗi của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Tôi buộc phải viết ra, phải làm vậy, vì không muốn đồng bào tôi – dù họ chưa hề là người tôi quen biết – lại bị âm mưu đen tối nào đó muốn chôn sống một lần nữa, sau nửa thế kỷ bị che đậy, bị nói ngược, bị điêu ngoa xảo trá. Nhất là sau cái chết của ông Tường, gói lại mọi sự kiện lịch sử mà ông cũng có phần tham gia dựng lên những bức màn.

Nhưng chung quanh câu chuyện của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, người mà đã nửa thế kỷ khốn khổ, vì luôn bị người đời gọi tên và mỉa mai không thôi, vẫn còn chuyện để bàn.

Có lẽ ông Tường đã có nhiều mùa xuân chồng chất những lời nguyền rủa, khiến đã đến tuổi thiên mệnh, ông buộc phải lên tiếng vì muốn thôi phải chịu đựng những hạn kỳ chua chát của dư luận như vậy.

Năm mươi năm không là ít. Năm mươi năm là một đời người, thậm chí 50 năm có thể là thời gian chung cuộc của một chế độ hay một niềm tin.

Ấy vậy mà 50 năm qua, những đồng chí của ông Tường chưa bao giờ lên tiếng chính thức cho ông, để ông thoát khỏi câu chuyện tự nhận là người có mặt trong những đêm dã thú ở Huế 1968. Thậm chí những người đã vỗ vai, bắt tay khen ngợi ông Tường, đặt ông vào chức tổng thư ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình Thành Phố Huế, tức lực lượng chịu trách nhiệm lấy danh sách để bắt và xử những người ở Huế vào năm 1968, cũng không ai lên tiếng, nói giúp rằng ông Tường không có mặt trong cuộc thảm sát, như lá tâm thư ông Tường khẩn khoản phân minh.

Hãy tạm gác lại trách nhiệm của ông Tường. Vấn đề trách nhiệm của những người trong “quân cách mạng” ở Huế mới thật đáng nói. Họ đã để lửng lơ câu chuyện của ông Tường với nghi án ấy như một kiểu đẩy mọi tội ác cho ông Tường gánh giùm. Đã vậy, năm 1981, “quân cách mạng” đẩy ông Tường ra phát ngôn trước ống kính quốc tế, lợi dụng tinh thần đắc lực lẫn tính hám danh của ông để khẳng định tội ác. Và như vậy, “họ” đã âm mưu chôn sống ông Tường lần đầu một cách rất hào nhoáng.

Em của ông Tường, ông Hoàng Phủ Ngọc Phan, người được dư luận nói rằng là một kẻ thủ ác không cần bàn cãi vào năm 1968, cũng im lặng. Thật khó mà tìm thấy một bài viết chính danh nào của ông Phan bênh vực về trường hợp người anh của mình. Nói một cách nào đó, nhát xẻng góp phần chôn sống ông Tường, chắc có cả của ông Phan.

Năm 2018, nửa thế kỷ tội ác Mậu Thân 1968, khi truyền thông nhà nước “ăn mừng,” thì dường như ông Tường không thể cùng vui với niềm vui chiến thắng như vậy. Ông phải tự đưa ra bức thư minh oan cho mình. Chỉ có một số ít bạn văn và những người quen biết lên tiếng yểm trợ cho ông. Nhưng mọi thứ lại bị chìm sâu trong tiếng nhạc mừng 50 năm “cuộc tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân.” Một lần nữa không có ai trong hệ thống cất lời giúp cho ông Tường.

Thế kỷ của nhân loại hôm nay quả tinh xảo. Chôn sống có thể chỉ một lần để giết chết. Nhưng vẫn có những loại nghệ thuật chôn sống, mà khi nhìn lại đời, mới biết mình lịm dần vì đã tin vào những kẻ đã vỗ vai, bắt tay khen ngợi.

Nhà truyền giáo Ravi Zacharias (1946-2020) từng nói “Thượng Đế không thể giúp cho kẻ xấu quay trở lại làm người tốt, nhưng có thể khiến họ sống mãi, sau khi đã chết.” Sự mập mờ về tội ác lịch sử và trung thành với lựa chọn chính trị của ông Tường, cũng có thể giúp ông sống mãi.

—–
Đọc thêm:
Hoàng Phủ Ngọc Tường, kẻ chối tay không dính máu thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, qua đời
‘Tại sao tôi bị giết?’
Nghệ thuật chôn sống

 

Tại sao tôi bị giết?’

LTS: Nhân cái chết của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và những lời trăng trối muộn màng nửa thế kỷ của ông ta, nhà báo Mạnh Kim trình bày lại vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở thành phố Huế với câu hỏi “Tại sao tôi bị giết?” từ tổng hợp các tài liệu.

Mạnh Kim

Một phụ nữ mang theo đồ đạc chạy khỏi Huế vào ngày 25 Tháng Hai, 1968, trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân do miền Bắc Việt Nam phát động. (Hình: Bob Wildau/AFP via Getty Images)

Như đã biết, ngày 1 Tháng Hai, 2018, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết một bức thư, gửi ông Nguyễn Quang Lập cậy đăng, với nội dung “giải thích” việc ông đã làm gì vào những ngày Mậu Thân kinh hoàng. Tuy nhiên, việc ông Tường có mặt ở Huế hay không thật ra không quan trọng. Ông có mặt hay không thì chiến dịch thảm sát vẫn xảy ra theo đúng kế hoạch sắp sẵn từ trước.

Ông có mặt hay không thì danh sách nạn nhân cần được “tiêu diệt” cũng đã nằm trong túi áo đám sát thủ được phân công đi giết người. Ông có mặt hay không thì đống xương trắng của hàng trăm nạn nhân ở Khe Đá Mài vẫn trơ những hốc mắt kinh ngạc bàng hoàng như thể họ muốn hỏi, vào ngày đó; và muốn được trả lời, sau 50 năm, rằng “Tại sao tôi bị giết?”

“Tại sao tôi bị giết?”

Việc không có mặt ở “hiện trường,” có thể được xem như là yếu tố “ngoại phạm” và là bằng chứng “vô tội,” thật ra là vô nghĩa. “Gây án” với lịch sử, dính dáng trực tiếp hay gián tiếp với lịch sử, không thuộc sự phán xét của một quan tòa. Nó thuộc sự đánh giá của dân tộc và sự phán xét của tòa án lương tâm.

Tôi (MK) có thể cảm nhận được sự dằn vặt của các ông trước những chỉ trích và cáo buộc dính dáng cuộc thảm sát. Tuy nhiên, 50 năm qua, ông Tường (và em trai của ông), cũng như ông Nguyễn Đắc Xuân, đã làm gì để sự thật được đưa ra ánh sáng? Các ông có biết ai là kẻ trực tiếp ra lệnh chiến dịch thảm sát, nếu có, tại sao không “tố giác;” nếu không, tại sao không kêu gọi một cuộc điều tra thủ phạm chóp bu thật sự, thay vì khổ sở thanh minh cho cá nhân mình?

Nếu các ông không có tội thì ai là kẻ có tội và tại sao các ông “chịu tội” thay? Với tư cách những người hoạch định và tham gia chiến dịch, các ông biết những gì? Các ông đã kể lại những gì và còn che giấu những gì? Chưa lần nào, trong bất kỳ bài viết nào khi “hồi tưởng” sự kiện Mậu Thân, các ông giải thích vì sao có những hố chôn tập thể mà nạn nhân đều bị trói ngoặt bằng dây kẽm gai…

Tôi không lên án sự chọn lựa chỗ đứng lịch sử của các ông trong thời điểm đó. Thái độ và sự chọn lựa cách thức để nhìn lại mình của các ông hàng chục năm qua mới là điều cần quan tâm. Tôi không chỉ trích sự chọn lựa quá khứ. Tôi chỉ thắc mắc sự chọn lựa hiện tại và cách nhìn hiện tại khi nhắc lại quá khứ.

Hàng chục năm qua, các ông vẫn chỉ gỡ tội cho cá nhân mình chứ không phải giải oan cho hàng ngàn nạn nhân, tiếp tục nhất mực rằng những “mất mát” đó là “ngoài ý muốn” và Mậu Thân vẫn là một “chiến thắng lịch sử” – như lời lặp đi lặp lại của ông Nguyễn Đắc Xuân. Thái độ hậu chiến và nhãn quan về tội ác chiến tranh của những người như ông Nguyễn Đắc Xuân đã khiến những kẻ hậu sinh như tôi xin được mạn phép thưa rằng, cho tôi gạt qua sự kính trọng cần có đối với người cao niên để thay bằng một cảm giác đối ngược.

Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến khốn nạn. Mậu Thân là chiến trường khốn nạn nhất trong cuộc chiến Việt Nam. “Hậu Mậu Thân” không chỉ là những xác người. Hậu Mậu Thân còn có những linh hồn chưa bao giờ được rửa. Hậu Mậu Thân còn có những người chưa bao giờ thật sự muốn rửa linh hồn mình.

Trong bài viết trên chuyên san “Indochina Chronicle” số 33 đăng ngày 24 Tháng Sáu, 1974, Gareth Porter thuộc Đại Học Cornell đã cố chứng minh rằng sự kiện thảm sát Mậu Thân 1968 là màn tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa lẫn Mỹ. Tuy nhiên, những gì Porter đưa ra là không chính xác và có nhiều chi tiết mâu thuẫn. Sự kiện thảm sát thường dân tại Huế là có thực, một bi kịch khủng khiếp có thực, một câu chuyện đầy nước mắt bi ai và oan ức với những nhân chứng có thực.

Đó là chiến dịch khủng bố kinh khủng nhất lịch sử chiến tranh Việt Nam. Dường như tất cả căn tính ác độc nhất của con người đều hiện ra trong những ngày tang thương này. Một cuộc “tìm diệt” và tàn sát ghê rợn bao trùm toàn bộ thành phố cổ kính, bình lặng và hiền lành. Dường như mọi người đều trở thành sát thủ vô tri và mọi người khác đều trở thành nạn nhân.

Trong quyển “A House in Hue” ấn hành 1968, Omar Eby thuật lại lời kể một nhóm nhân viên thiện nguyện thuộc hệ Tin Lành Mennonite, khi lẩn trốn, đã thấy một số người Mỹ trong đó có một nhà nông học thuộc Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế, bị trói ngoặt trên đường ra “pháp trường.”

Năm 1971, trong quyển “Tet!,” ký giả Don Oberdorfer cũng thuật nhiều chi tiết kinh khủng. Ông Stephen Miller, một nhân viên ngoại giao đoàn Hoa Kỳ (lúc đó 28 tuổi), đã bị lôi ra khỏi căn nhà người bạn Việt Nam và bị xử tử trên một cánh đồng. Các bác sĩ người Đức Raimund Discher, Alois Alteköster; cùng vợ chồng Horst-Günther Krainick – đều dạy tại một trường y – cũng bị giết tương tự. Hai cha cố Pháp, Urbain và Guy, cũng bị thấy dẫn đi.

Thi thể Cha Urbain sau đó được tìm thấy, với tay lẫn chân bị trói chặt trước khi bị chôn sống. Thi thể Cha Guy có một viên đạn cắm sau đầu, nằm chết cong queo trong một huyệt mộ cùng 18 nạn nhân khác. Linh Mục Bửu Đồng, một người hiền lành nho nhã nổi tiếng đất cố đô, cũng bị giết. Xác của ông được tìm thấy vào 22 tháng sau, cùng 300 thi thể khác.

Trong cuộc phỏng vấn đài truyền hình WGBH vào Tháng Ba, 1981, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời: “Tôi xin nói tất cả vấn đề khách quan. Cái thứ nhất, là nói riêng về những người bị giết thì trong số đó hiển nhiên là có những người do du kích, do quân đội cách mạng, do phải thi hành bản án tử hình đối với những kẻ mà khi chúng tôi vào nhà để gọi họ ra thì họ bắn đến cùng. Họ bắn đến độ những người chiến sĩ của chúng tôi đã phải bị thương và những người đó thì phải giết tại chỗ. Đấy, trong trường hợp đó, có một viên phó tỉnh trưởng của Huế.

Nó trên lầu nó bắn xuống đến cùng, không đầu hàng. Chỉ có, như vậy là chỉ có một ít trường hợp thôi. Còn một số những trường hợp khác thì chính nhân dân đã căm thù quá lâu… Và đến khi mà cách mạng bùng lên, họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ, như là trừ những cái con rắn độc mà từ lâu nay, nếu còn sống, thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh… Như vậy là cái giá đó, tôi nghĩ là, nó nhẹ. Nếu ai đã từng theo dõi cuộc chiến tranh thì sẽ thấy từng cái món nợ đó là rất nhẹ. Nó rất gọi là công bằng” (…)

Người dân Huế được người lính Việt Nam Cộng Hòa giúp qua cầu Trường Tiền khi cây cầu bắc qua sông Hương này bị Cộng Sản Bắc Việt phá hoại trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân hồi Tháng Hai, 1968. (Hình: Terry Fincher/Daily Express/Hulton Archive/Getty Images)

Ai là “những cái con rắn độc?” Các bác sĩ người Đức, nhà nông học người Mỹ hay các vị cha đạo người Pháp? Hay là ông Phạm Văn Tường, nhân viên gác cổng bán thời gian cho Phòng Thông Tin Huế? Khi bị “phát hiện,” ông Tường, như mọi người dân hoảng hốt chạy lánh chiến sự, đang trốn cùng đứa con gái 3 tuổi, con trai 5 tuổi và hai đứa cháu. Cả nhà ông đều bị bắn sạch. Một trường hợp khác: Vào ngày thứ năm sau khi chiếm Huế, Việt Cộng “lùa” khoảng 400 đàn ông và thanh niên đến nhà thờ Phú Cam.

Vài người trong số đó đã nằm trong danh sách “có nợ máu với nhân dân.” Họ được nhìn thấy dẫn đi về hướng Nam. Sau đó, thi thể họ chất đống tại Khe Đá Mài… Một số sách, trong đó có “America in Vietnam” (ấn hành 1980) của Gunther Lewy và “Giap” (1993) của Peter MacDonald, đều trích dẫn một tài liệu của Việt Cộng bị tịch thu được đã “thống kê thành tích” việc “trừ khử 1,892 nhân viên chính quyền, 38 cảnh sát và 790 tên ác ôn.” Ai trong số những người bị giết tại Khe Đá Mài nằm trong bảng thống kê này, và ai “ác ôn,” ai vô tội?

Cũng trong cuộc phỏng vấn trên, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nói: “Sau này, trong năm 75, 76, 77, chúng tôi đi làm thủy lợi đó, làm dẫn nước sông Hương đó, tôi đã đào lên những cái nấm mồ mà trong đó gọi là ‘thảm sát Mậu Thân’ thì đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng. Thì đấy là cái sự, tôi nói rằng đấy là cái, cái gọi là cái ranh mãnh của thực dân mới. Nó bắn một mũi tên và được hai mục tiêu. Cái thứ nhất là che giấu tất cả những tội ác mà nó đã làm. Và cái thứ hai, nó đổ tất cả những cái đó cho quân đội cách mạng” (…)

Ở góc nhìn khác, cũng thấy một điều, có “tất cả những tội ác mà nó đã làm” cũng đã được che giấu. Hãy tua lại một đoạn phim tài liệu gần đây: “Đầu Tháng Ba, hai tuần sau khi chiếm được Huế, Thiếu Úy Phil Gioia thuộc Sư Đoàn 82 Không Vận đã dẫn trung đội mình dọc bờ sông Hương để tìm vũ khí địch có thể chôn lại sau khi rút lui. Trung Sĩ Reuben Torres thấy một vật thò lên khỏi mặt cát. Đó là một cái khuỷu tay. ‘Bọn tôi nghĩ chắc đây là một cái huyệt’ – Phil Gioia kể – ‘mà địch chôn người chết của họ sau khi rút lui khỏi Huế.’ Trung Sĩ Torres nói, ‘ta đào chỗ này lên xem.’ Chúng tôi thấy thi thể đầu tiên là một phụ nữ, mặc áo trắng, quần đen, hai tay bị trói ngoặt ra sau và bị bắn vào gáy. Bên cạnh là đứa bé, con bà ấy, cũng bị bắn. Thi thể tiếp theo cũng là một phụ nữ. Lúc đó thì đã rõ, đây không phải là xác quân Bắc Việt hay Việt Cộng” (The Vietnam War-Ken Burns, tập 6, xem từ phút 58:14).

Những phụ nữ này, cùng con cái họ, có nằm trong “thành phần” mà “nhân dân đã căm thù quá lâu?” Vì sao họ bị giết? Họ có tội gì? Đây không phải là cái chết giữa những người cầm súng ở hai bên chiến tuyến mà là sự giết chóc thường dân. Một cuộc thảm sát man rợ và tàn ác. “Cái giá” mà Huế phải trả trong Mậu Thân không hề “nhẹ” và rất không “công bằng.” Nó là tội ác chống lại loài người và những kẻ gây ra phải gọi là tội phạm chiến tranh. Nó cũng chẳng thể gọi là “điều đương nhiên… đã tự động để mà cái lòng căm thù đã đẩy cái mức đó,” như lời Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nó là một cuộc say sưa giết chóc có hệ thống và có tổ chức.

Ai chịu trách nhiệm?

Trong cuộc phỏng vấn ngày 20 Tháng Năm, 2017, ông Nguyễn Đắc Xuân kể: “Họ lập ra một cái đoàn, gọi là ‘Đoàn sinh viên quyết tử,’ mà tôi là trưởng cái đoàn đó… Tôi tổ chức học quân sự, thành ra ba đại đội, làm thành một tiểu đoàn… Thì trong cái đội đó, cái đoàn sinh viên quyết tử đó, chả bắn được ai, mà cũng chả làm cái gì ai, nhưng nó gây ra một cái tinh thần sinh viên, mà dám vũ trang để mà chống Mỹ, để mà chống Thiệu-Kỳ…”

Dù không biết “Đoàn sinh viên quyết tử” của ông Nguyễn Đắc Xuân có “bắn được ai” hoặc “làm gì ai” không, nhưng có điều chắc chắn rằng chiến dịch Mậu Thân là một kịch bản được chuẩn bị chu đáo với những kế hoạch cụ thể và phân công cá nhân cụ thể. Những bài báo miêu tả chi tiết “chiến công Mậu Thân” đã thuật rõ điều này. Việc tiêu diệt cho bằng hết “ngụy quân, ngụy quyền” để “xây dựng” một chính quyền mới sau “giải phóng” là một “chủ trương” của Ba Đình.

Như được Lê Duẩn phác thảo, Mậu Thân không chỉ là chiến dịch quân sự. Mục tiêu lớn nhất là cướp chính quyền. Điều đó đã dẫn đến chiến dịch khủng bố và cuối cùng đưa đến cuộc thảm sát. Giết ai và ai đi giết đã nằm trong kế hoạch được soạn từ nhiều tuần hoặc nhiều tháng trước khi chiến dịch nổ ra. Việc Huế bỗng đốt pháo nhiều hơn để người dân không phân biệt được tiếng súng với tiếng pháo đã cho thấy kế hoạch được lên chi tiết như thế nào.

Con hào xung quanh Kinh Thành Huế trong Chiến Tranh Việt Nam ngày 13 Tháng Ba, 1968. Cuộc giao tranh kết thúc với việc lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại thành phố từ tay Việt Cộng. (Hình: Central Press/Hulton Archive/Getty Images)

Trong “Huế 1968: A Turning Point of the American War in Vietnam” (ấn hành 2017), tác giả Mark Bowden đã ghi lại một phần trong danh sách 22 trang đánh máy (mà ông tìm được trong Kho Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ), liệt kê các mục tiêu cần “tiêu diệt”:

-Nhà thờ Phú Cam.

-Khoa Luật Đại học Huế.

-“Xa,” một cảnh sát Quảng Trị sống ở đường Thống Nhất gần giao lộ chữ Y cách đường Lê Văn Duyệt vài căn.

-“Soi,” trung sĩ nhất Sư Đoàn 1 Bộ Binh Ngụy, ở đường Thống Nhất, gần căn nhà bằng đá và tiệm may.

-Cao Thọ Xá, ác ôn, dân Phú Ổ, làng Hương Chu, thị trấn Hương Trà. Bỏ làng, về sống ở đường Thống Nhất gần cửa Chánh Tây. Đêm đêm, bọn chính quyền từ các làng kế bên về nhà hắn đánh bài và ngủ lại.

-Tiệm sửa đồng hồ đường Thống Nhất, đối diện xéo Phòng Tuyển Quân. Bọn chính quyền từ các làng kế bên tụ tập về đây ngủ.

-Hồ Thị Kim Loan, làm cho Cơ Quan Phát Triển Nông Thôn. Nhà ở đường Trịnh Minh Thế gần trạm xe buýt Nguyễn Hoàng.

-Nhà hàng Lạc Thành ở đường Đinh Bộ Lĩnh, bên ngoài cửa Thượng Tứ. Bọn mật vụ và cảnh sát thường đến đây ăn uống.

-Tiệm sửa radio ở số 3 đường Trần Hưng Đạo. Chủ là Tôn Thất Vũ, con của Tôn Thất Kế, đảng viên Đại Việt…

Cầm danh sách trong tay, những “anh hùng ngã tắt,” như cách nói của ông Phan Nhật Nam, đã tổ chức các cuộc lùng sục gieo rắc kinh hoàng. Những kẻ “hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát” không chỉ là những thanh niên “sớm giác ngộ” hoặc Việt Cộng nằm vùng. Có cả dân giang hồ. Một trong những người như vậy là Mai Văn Ngụ, ở Thới Lai, vốn khét tiếng với “nghề” ăn cướp; tống tiền; đâm thuê chém mướn. Từng xộ khám nên Ngụ hận thù cảnh sát.

Khi “giải phóng về,” Ngụ “lột xác,” đổi tên thành Mai Văn Hòa. Được “cách mạng tin tưởng” giao nhiệm vụ, Ngụ hăm hở lập thành tích truy tìm những kẻ “có nợ máu với nhân dân,” nhân tiện “xử” luôn những kẻ thù của mình, trong chính quyền lẫn giới giang hồ. Trong vài vụ, đích thân Ngụ đứng xem cuộc hành quyết ngay trước nhà nạn nhân… sau sự kiện Mậu Thân, Ngụ trốn theo “quân giải phóng” nhưng sau đó bị bắt và bị đày Côn Đảo; sau 1975, đương sự trở về Huế và được xem như một “anh hùng cách mạng” – dẫn lại từ “Huế 1968,” Mark Bowden.

Vì “chỉ đạo ở trên” là tiêu diệt sạch chính quyền “cũ” để “giải phóng hoàn toàn” Huế nên đã xảy ra các vụ bắt bớ tràn lan và giết chóc vô tội vạ. Cứ là “thành phần ngụy quyền” thì bắt hoặc giết, bất luận có “ác ôn” hay không. Trường hợp gia đình bà Nguyễn Công Minh là một ví dụ.

Bà kể, lúc 2 giờ sáng sau Giao Thừa, một nhóm Việt Cộng cầm AK đến gõ cửa. Cha bà sợ hãi kêu anh cùng chú của bà lẻn cửa sau đi trốn. Việt Cộng đòi xem căn cước và hỏi cha bà làm gì. Ông là phó quận trưởng quận Triệu Phong ở Quảng Trị, sắp nghỉ hưu. Sáng Mùng Một, họ quay lại, dẫn ông đi “thẩm cung.” Sáng Mùng Hai, họ lại đưa ông đến trường tiểu học Vỹ Dạ để tra hỏi. Đến Mùng Ba, họ yêu cầu ông gói ghém đồ dùng cá nhân và đi “học tập cải tạo 10 ngày.” Ông mất biệt từ đó.

Một năm sau, một Việt Cộng chiêu hồi khai với tỉnh trưởng Thừa Thiên rằng ông ta tận mắt chứng kiến một cuộc thảm sát, tất cả đều bị chôn sống, và ông biết chính xác hố chôn. Đến Xuân Ổ, người ta tìm thấy một hầm có bảy xác, tất cả đều bị trói và đều bể sọ. Việc tìm kiếm được mở rộng sang các vùng lân cận.

Mùa Hè khô hanh chỉ toàn cát phủ nhưng cứ chỗ nào có cỏ tươi thì nơi ấy có xác. Lên Phú Tứ, sau một tháng, tìm được thêm 250 xác. Hầu hết đều bị bể đầu, trói cánh khuỷu, với tư thế quỳ và chết chụm vào nhau. Gia đình bà Minh vẫn cố gắng tìm xác người thân. Tìm cho đến Tháng Chín, 1979… Cha bà Minh bị bắt đi đâu và bị giết ở đâu? Không ai biết.

Ai trực tiếp “chỉ đạo” và “duyệt” các kế hoạch “giải phóng” Huế? Ai lên danh sách “tìm diệt” và tổ chức “tìm diệt?” Phải có một hoặc nhiều người nào đó. Và (những) người đó phải là dân địa phương. Những thông tin này đã bị giấu nhẹm. Những bài báo “ca ngợi chiến công” hoặc các hội thảo từ hàng chục năm nay, trong đó có “Hội thảo khoa học cấp quốc gia ‘Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử,’ tổ chức ngày 29 Tháng Mười Hai, 2017, đã không bao giờ dám nhắc đến điều này. Bên cạnh sự hoan lạc chiến thắng là một sự hèn hạ rợn người.

Ai chịu trách nhiệm lớn nhất với vai trò đầu não trong kế hoạch “xóa sổ” toàn bộ hệ thống chính quyền địa phương để xây dựng chính quyền mới là một bí ẩn lớn nhất của sự kiện Huế-Mậu Thân. Những bàn tay vấy máu đồng bào đã vội vã được chùi. Những “chứng cứ ngoại phạm” hấp tấp được bày ra. Ông Lê Khả Phiêu, người mà hồi chiến dịch Mậu Thân là chính ủy kiêm trung đoàn trưởng Trung Đoàn 9, có trách nhiệm gì không?

Một bài báo mang tựa “Gặp lại cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu” (Tiền Phong, 11 Tháng Mười Một, 2012) có đoạn: “Đêm 24-2-1968, quân ta được lệnh rút khỏi Huế. Khi rút phải đưa hết thương binh ở phẫu tiền phương lên rừng để tiếp tục điều trị… Đồng chí (Lê Khả Phiêu) nhận trách nhiệm trước Quân Khu rằng, không riêng Trung Đoàn 9 mà cần phối hợp với các trung đoàn bạn khác… cùng với nhân dân thành nội Huế làm nhiệm vụ vận chuyển anh em thương binh vượt vòng vây lên căn cứ. Chính sách thương binh là đây. Tình người, tình đồng chí đồng đội là đây”…

Ừ thì đây: Một bài báo khác, đề tựa “N. Vietnamese Die Chained to Their Gun Posts” của ký giả Fred Emery đăng trên Times of London ngày 16 Tháng Hai, 1968, viết rằng ông thấy hai thi thể lính Bắc Việt đã bị xích vào cột điện với khẩu súng máy (“Huế 1968,” Mark Bowden).

Những câu chuyện bi thảm về chiến tranh Việt Nam đáng lý không nên nhắc lại. Nhưng, khi mà những oan hồn chiến tranh còn chưa được giải và những bàn tay nhuốm máu còn chưa được rửa với sự thành khẩn ăn năn để chắp lạy nén nhang trước vô số cái chết oan ức thì liệu mọi thứ có thể bỏ quên hoặc để vùi lấp vào bụi lịch sử? Chúng ta sẽ nói gì với thế hệ trẻ, để giải thích tại sao cả thành Huế lại chít khăn tang để làm giỗ cho hàng trăm oan hồn, trả lời sao với con cháu rằng lý do gì ông bà cha mẹ anh chị cô chú mình bị giết và ai giết? Cho đến giờ, vẫn còn có màn vỗ tay cười cợt trước những dải khăn tang.

Nếu người ta tiếp tục khạc nhổ những bãi đờm nhơ nhớp vào lịch sử và giẫm đạp lên xác chết chiến tranh trong đó có cả chiến sĩ đồng đội mình thì những câu chuyện này vẫn cần được nhắc lại, không phải để khinh bỉ, không đáng và cũng chẳng cần, mà để cho thế hệ trẻ hiểu được cuộc chiến “giải phóng dân tộc” nó đầy dãy tội ác như thế nào, để họ hiểu dối trá và bưng bít cũng là một tội ác, và để họ nhận thức rằng những hành động kinh tởm đó đừng bao giờ lặp lại với đồng bào và dân tộc mình.

Năm 2018 nhân 50 năm sự kiện Mậu Thân, một vở kịch do Sân Khấu Kịch Hồng Vân thực hiện; hơn 400 đầu tư liệu “50 năm – một mùa xuân lịch sử” được ra mắt; một cuộc “tọa đàm giao lưu nhân chứng lịch sử” mang tên “Thành Đoàn tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968” được thực hiện; một chương trình cầu truyền hình về “bản hùng ca Mậu Thân” được tổ chức (có sự tham gia của Trần Hiếu, Quang Thọ, Tạ Minh Tâm, Thanh Thúy, Anh Bằng, Hạ Trâm…).

Xem lại tất cả những bộ phim về chiến tranh Việt Nam và những hình ảnh liên quan Mậu Thân, không thấy có một cuộc “hưởng ứng” nào của “đồng bào” cả. “Hậu Mậu Thân” là những nhát cuốc chôn người thân và những nhát xẻng đào kiếm người nhà. Đó là sự kiện mà vô số gia đình miền Nam lẫn miền Bắc phải làm giỗ cho người thân chết trận Mậu Thân. Thay vì “hân hoan” “hát trên những xác người,” có lẽ cần tổ chức một đại lễ cầu siêu cho những người đã bị giết hoặc bị chết thảm hại khi bị đẩy vào chiến dịch thảm sát đồng bào trong sự kiện bi thảm này.

Thay vì vỗ tay và phô bày những bàn chân đạp đổ bàn thờ của những người đã chết oan ức trong sự kiện bi thảm Mậu Thân, có lẽ cần nhìn lại rằng vấn đề đâm chém vào lịch sử có giúp gì cho việc hàn gắn dân tộc hay không. Thay vì hất văng bát nhang đang cúng giỗ cho những người đã mất, có lẽ cần cúi đầu xin lỗi đồng bào, tất cả đồng bào, Bắc cũng như Nam, về những sai lầm mà Mậu Thân mang lại. Tuy nhiên, “chúng nó” – tất cả chúng nó, hơn 50 năm qua, chỉ cho thấy chúng là những sinh vật mang hình hài con người.

—–
Đọc thêm:
Hoàng Phủ Ngọc Tường, kẻ chối tay không dính máu thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, qua đời
‘Tại sao tôi bị giết?’
Nghệ thuật chôn sống

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2023

Tưởng niệm sự kiện 55 Mậu Thân. Nỗi đau vẫn hằn sâu trong ký ức

Tưởng niệm sự kiện 55 Mậu Thân. Nỗi đau vẫn hằn sâu trong ký ức

Tưởng niệm sự kiện 55 Mậu Thân. Nỗi đau vẫn hằn sâu trong ký ức

http://www.viettin.de/sites/default/files/super_users/img/TN%2055%20MauThan%201.jpg
 
- Thầy giáo Phạm Minh Hoàng -
 
Mỗi độ Xuân về, người Việt Nam không thể nào quên được Tết Mậu Thân 1968 hằn sâu dấu ấn th.ương v.ong t.ang tóc. Rất nhiều người dân vô tội đã phải bỏ mình trong cái mà cộng sản Việt Nam gọi là "cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân", trên khắp 17 tỉnh thành miền Nam.  
 
Lê Thanh Hải, nguyên Bí thư Thành ủy TP. HCM, nhân vật đầy tai tiếng và bị người dân Sài Gòn lên án với những thành tích tham nhũng, đàn áp những người đấu tranh và những dân oan đã từng huênh hoang: "Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 đã tạo "một cú choáng đột ngột" với địch ở miền Nam…, là điểm son chói lọi của lịch sử Việt Nam."
 
Chúng ta hãy giở lại trang sử cũ, Tết Mậu Thân, để nhìn lại "những bộ lông" mà Việt cộng đã "trau chuốt" lập nên xem nó chói lọi đến độ nào và tạo đỉnh cao tới đâu, để xem "chiến công sống mãi trong lòng các thế hệ trẻ" là "đỉnh cao của chủ nghĩa", là "điểm son chói lọi" là những thành tích gì?
 
Nói đến Mậu Thân 68 trước tiên là phải nói đến Huế. Sự kiện này là nỗi k.inh h.oàng đối với người dân Cố Đô, đó là vết thương chưa khô m.áu, là vết sẹo chưa lành vẫn còn đau thốn tim can mỗi khi có ai nhắc đến.
 
Hàng ngàn dân xứ Huế đã bị quân đội cộng sản h.ành q.uyết bằng nhiều hình thức. Trong đó, có những nhà giáo, nhà tu hành, người Việt Nam cũng như ngoại quốc; có những học sinh, sinh viên; có những công chức, quân nhân về ăn Tết với gia đình. Những hình ảnh t.ang th.ương đó đã được tường thuật lại qua rất nhiều tài liệu. Tổng số thường dân ngã gục trong Tết Mậu Thân xấp xỉ 15.000 người.
 
Lẫn trong tiếng pháo n.ổ rền đón mừng năm mới, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, Việt cộng đã đồng loạt bất ngờ tấn công 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn, Gia Định và Huế, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn của miền Nam. Đặc biệt tại Huế, trong 26 ngày bị lọt vào tay quân “cách mạng”, chúng đã điên cuồng sát hại biết bao người dân lành.
 
Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, người ta ước tính khoảng 6.000 người bị g..iết tại 22 địa điểm tìm được là các mồ c.hôn tập thể. Nơi đầu tiên tìm thấy các nạn nhân là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26 tháng Hai. Mấy tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18 nơi khác, nơi lớn nhất là ở Khe Đá Mài. Câu nói của phóng viên tường thuật về sự kiện vẫn còn đọng lại trong ký ức nhiều người: "trong nhiều ngôi làng, đầu ai cũng quấn khăn tang. Trên con đường dẫn ra nghĩa trang, màu tang trắng phủ lấp bụi đất trong tiếng gào thét, khóc than của gia đình các nạn nhân".
 
Trong bài viết đăng ngày 30/01/2008 với tựa đề "Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Nét đặc sắc của Chiến tranh Nhân dân", tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng đã thú nhận: " …Quần chúng nhân dân tại thành phố Huế, quần chúng đã hăng hái tham gia vào các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong thành phố. Với 26 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, thắng lợi của quân dân ta là nguồn cổ vũ to lớn, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ…". Tuy nhiên, cái mà cán bộ Hưởng gọi là "sức mạnh nổi dậy của quần chúng" thực tế đã trả lời cay đắng cho mộng tưởng.
 
Người dân Huế đã không những không nổi dậy, không hưởng ứng mà lại ùn ùn lánh nạn cùng nhau chạy về phía quân đội VNCH để được bảo vệ. Và đó mới chính là lý do khiến cho quân Việt cộng tức giận s.át h.ại người dân hòng trả thù. Nội dung kiểu này còn được thấy trong bài phỏng vấn của Hoàng Phủ Ngọc Tường sau năm 1975, đây cũng là một người có trách nhiệm lớn trong vụ t..àn sá.t Tết Mậu Thân 1968.
 
Nếu tiếp tục viết về các "thành tích" đã được thực hiện trên khắp các tỉnh thành miền Nam vào mùa Xuân 1968 thì bất tận, nhưng 55 sau biến cố tang thương, kẻ gây ra tất cả những hành động tàn nhẫn nói trên vẫn còn tung hô chiến tích của mình, vẫn còn "hát trên xác đồng bào của mình". Ngược lại, tại những nước "giãy chết", thì cách hành xử của họ lại vô cùng nhân bản.
 
Tôi còn nhớ ở Pháp có một nghĩa trang La Cambe trong vùng Normandie là nơi chôn cất trên 20 ngàn lính Đức chết trong đệ Nhị thế chiến. Nước Đức của Hitler mang quân xâm lăng Pháp, vậy mà người Pháp đối xử một cách rất văn hóa là dành cho những người này một mảnh đất để yên nghỉ ngay sau khi Đức thua trận. Không những Pháp họ dành cho những người lính Đức một nơi yên nghỉ nghiêm trang, mà họ còn tôn trọng cách thiết kế các ngôi mộ theo truyền thống Đức. Tôi muốn gửi lời khuyên chân thành đến cho bà con chúng ta khi sang Pháp du lịch nên ghé đến nghĩa trang La Cambe (trong tổng cộng 218 nghĩa trang rải rác khắp nước Pháp) để thấy cái "4000 năm văn hiến" của chúng ta hiện nay như thế nào.
 
Phải nói, cùng là người Việt Nam máu đỏ da vàng mà 48 năm sau khi chấm dứt chiến tranh, người ta đối xử với nhau tàn nhẫn quá!
 



Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

Thấy gì từ "lời sám hối" của Hoàng Phủ Ngọc Tường?

< A >
Hương Khê (Danlambao)
- (Một nén nhang cho các nạn nhân Huế-Mậu Thân 1968).

Sự kiện mấy ngàn người dân Huế bị thảm sát đẫm máu hồi Tết Mậu Thân 1986 đã làm chấn động dư luận trong nước và thế giới trong nhiều thập niên qua. Nay hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, cứ mỗi khi tết đến xuân về, khi hệ thống tuyên truyền của đảng bật hết công suốt để ca ngợi cái gọi là chiến thắng vẻ vang của Tết Mậu Thân 1968, thì những ký ức rùng rợn ấy lại ập về, vết thương ấy lại đang bị xát muối, và rỉ máu trong lòng người dân VN.

Đến nay một trong số những kẻ đầu sọ chỉ huy cuộc thảm sát ấy đã lên tiếng.

*

Hôm 10/02/2018, trên trang cá nhân của nhà văn Nguyễn Quang Lập, có đăng lá thư “sám hối” Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT), với tựa đề: “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn”.

Trong thư, HPNT viết: “Năm nay tôi 81 tuổi, và tôi biết, còn chẳng mấy hồi nữa phải về trời. Những gì tôi đã viết, đã nói, đã làm rồi trời đất sẽ chứng nhận. Dầu có nói thêm bao nhiêu cũng không đủ. Tốt nhất là im lặng bằng tâm về cõi Phật. Duy nhất có một điều nếu không nói ra tôi sẽ không yên tâm nhắm mắt. Ấy là câu chuyện Mậu thân 1968”…

Qua lá thư, HPNT công nhận 2 sai lầm, đó là “nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình,” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc”.

Sai lầm thứ 2 là HPNT “đã nhận vơ thành tích mà ông chỉ nghe qua lời kể của người khác làm công trạng của mình trong vụ thảm sát này. Ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng”.

Và bây giờ ông ấy “xin thành thật nhìn nhận về hai sai lầm nói trên, xin ngàn lần xin lỗi”(1).

Khi mới đọc qua lá thư, với những lời lẽ nghe có vẻ thống thiết đầy sự ân hận, người ta rất dễ hiểu lầm, là ông ấy đã đưa trời, phật ra chứng giám và biết sám hối. Vậy có thể là những lời thành thật, và HPNT không dính líu đến vụ thảm sát này.

Nhưng hãy bình tĩnh đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy đây là một âm mưu của kẻ lưu manh đang tìm cách chối tội, và đầy rẫy những lời dối trá. Đến tận phút cuối cùng, HPNT vẫn cố che đậy tội ác của mình và đồng bọn đối với đồng bào Huế bằng một lá thư được viết với ngôn từ khôn khéo, khiến nhiều người hiểu lầm. Trong thư, HPNT vẫn ngoan cố cho rằng vụ thảm sát đồng bào Huế là do “quân nổi dậy” quá hăng say khi chiến thắng, chứ không phải do chủ trương của đảng CSVN, cho thấy bản chất lưu manh và lươn lẹo của những tay đồ tể cộng sản là không bao giờ thay đổi, là ngậm máu phun người.

Nên biết rằng, để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968, phía cs Bắc Việt đã chuẩn bị trước đó cả năm trời. Nào là điều quân, ém quân, vận chuyển xe cộ, vũ khí đạn dược và lương thực… vào các vị trí tập kết.

Ngày 19-10-1967 (nhằm ngày 16 tháng 9 âm lịch năm 1967), đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đưa ra lời tuyên bố của nhà nước VNDCCH, tự nguyện ngưng bắn từ 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 27/1/1968 (nhằm ngày 27 tháng chạp 1967), đến 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 3-2-1968, tức trong 7 ngày.

Chính phủ lâm thời CHMNVN cũng tuyên bố ngưng bắn như trên.

Nhưng thật bất ngờ: Khi nhân dân miền Nam đang háo hức đón giao thừa mừng năm mới trong yên bình theo lời hứa của Vẹm, thì trền toàn bộ miền Nam VN bị cs đồng loạt tấn công. Và khói lửa ngút trời từ thành thị đến nông thôn đã cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn người dân miền Nam thân yêu.

Ngày 26/3/1968, thành phố Huế bị “giải phóng” và bị chiếm giữ trong 25 ngày. Và những vụ thảm sát đẫm máu đã xảy ra như mọi người đã biết.

Năm 1981, trong cuộc trả lời phỏng vấn đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình”, với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, HPNT vừa câu trước coi “Tất cả những tội lỗi do chính Mỹ gây ra”; Câu sau lại “do quân đội cách mạng đã phải thi hành bản án tử hình đối với những kẻ chống đối”. Cuối cùng lại đổ tội cho Mỹ-Ngụy:

“Những nấm mồ, những xác chết đó là ai? Là chính nhân dân đã bị bom của mỹ thả xuống giết chết trong những cuộc phản kích… Trong số những người bị giết đó, hiển nhiên có những người do du kích, do quân đội cách mạng đã phải thi hành bản án tử hình đối với những kẻ chống đối. Khi chúng tôi vào nhà, họ đã bắn chúng tôi bị thương. Những người đó phải giết tại chỗ. Trong số đó có viên Phó Tỉnh trưởng Huế. Còn những trường hợp khác do nhân dân đã căm thù quá lâu. Chúng nó đã làm cho tất cả gia đình họ phải đi ở tù ra ngoài đảo. Đến khi cách mạng bùng lên, họ lấy lại thế của người mạnh, họ đi tìm những kẻ đó để trừ như trừ những con rắn độc, mà từ lâu nay nếu còn sống họ tiếp tục gây tội ác. Người ta lấy lại món nợ ấy là công bằng. Sự căm thù và thi hành bản án như vậy là nhẹ…

Những nấm mồ, những xác chết đó là ai? Là chính nhân dân đã bị bom của mỹ thả xuống giết chết trong những cuộc phản kích. Ví dụ như một bệnh viện nhỏ ở chợ Đông Ba, một trái bom đã làm 200 người chết và bị thương. Tôi đã đi trên những đường hẻm ban đêm. Tôi tưởng là bùn, tôi bấm đèn lên thì đó là máu lầy lội như vậy…”(2)

Qua cuộc trả lời phỏng vấn này cho thấy sự tàn ác và khát máu đến tận cùng của những người cs, mà HPNT là đại diện. HPNT cho rằng những người bị chính quyền VNCH bắt bớ, tù tội, thì nay với sức mạnh của kẻ chiến thắng, khi trở về, họ có quyền giết hại nhân dân Huế để trả thù, đó là lẽ công bằng. Họ coi việc giết hại đồng bào Huế là điều hiển nhiên.

Linh mục Phan Văn Lợi, một người Huế chính gốc, nhận xét như sau: “Thư đó nói rằng Mỹ đã dội bom 1 cái bệnh viện gần Đông Ba và có 200 người chết. Thời đó tôi đã 17, 18 tuổi rồi. Tôi biết rằng cả cái khu Đông Ba đó không có cái bệnh viện nào lớn cả. Khu Đông Ba đó là 1 cái chợ sát bên bờ sông. Bệnh viện là bệnh viện Huế, bệnh viện Quân đội Nguyễn Tri Phương.

Về cái gọi là “chiến thắng vang dội Mậu Thân 1968” là gì?

Là một cố đô Huế với bao di tích lịch sử của đất nước bị “những người cách mạng” tàn phá tan hoang.

Là toàn bộ linh mục và tu sĩ, chủng sinh tại Đại Chủng viện Xuân Bích-Huế, bị bắt đi và không còn ai sống sót trở về.

Đó là tất cả mấy trăm con người, là những linh mục và nhân dân cả lương lẫn giáo đang trốn trong nhà thờ Phú Cam, bị đồng chí của HPNT bắt đi và mãi mãi biệt tăm.

Là khi khai quật những hố chôn tập thể, đa số những người chết đều đang bị trói gập hai tay ra sau lưng.

Là hầu hết nạn nhân đều bị chết bởi những đòn thù, đập vỡ sọ hoặc chém ngang lưng.

Là những đống xương trắng với đầu lâu người chết ở khe Đá Mài và nhiều nơi khác.

Tất cả những cái đó tập hợp lại thành chiến công vĩ đại mà HPNT “do quá hăng say nên ra sức bảo vệ”.

Nếu quả thật HPNT biết sám hối, lẽ ra điều ông nên làm là chấp nhận quá khứ vì không ai có thể thay đổi được quá khứ. Cách thanh minh tốt nhất là phản tỉnh! Xác nhận tội lỗi do ông và bè đảng của ông gây ra thảm sát Mậu Thân ở Huế.

Qua lời biện bạch lươn lẹo và bịp bợm của HPNT, cho thấy cái gọi là khí tiết của những người cs chỉ là trò hề. Chứng tỏ bản chất của chúng là “đến chết nết không chừa”. Đó là bản chất của những kẻ lưu manh và hèn hạ. Nếu như HPNT nói đó là nhận vơ công trạng giết người của kẻ khác, chứng tỏ những cái gọi là “chiến thắng vẻ vang” của họ là không có thật.

HPNT nói “ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân”.

Vậy là HPNT đã thừa nhận có thảm sát Mậu Thân 1968, nhưng kẻ gây ra là do “quân nổi dậy”, chứ không phải chủ trương của đcs?

Nếu không vì mấy chục năm chịu quả báo ngồi trên xe lăn như một đống thịt, bắt vợ con phục dịch thì làm gì có những lời gọi là “sám hối” muộn màng như vậy.

Người xưa có câu: “con chim sắp chết thì tiếng kêu thương. Con người sắp chết thì lời nói phải”.

Câu này không đúng với HPNT, vì đến lúc gần chết mà vẫn còn quanh co gian dối.

Với bài viết biện bạch như trên,HPNT đã mang xăng đi dập lửa.

HPNT không đáng xách dép cho người thanh niên trẻ tuổi kiên cường Trần Hồng Phúc. Trước tòa án, Trần Hồng Phúc nói: “Các ông có thể xét xử tôi 10 năm, 20 năm, nhưng chế độ này có thể tồn tại đến mức đó không?… Ngày nay các ông xử tôi thì ngày mai nhân dân sẽ sử các ông”.

Phải công nhận nhà văn Nguyễn Quang lập đã rất thành thật khi đưa ra nhận xét này: “Cái “liếm môi huyền thoại” và ánh mắt láo liến của anh trước cuộc phỏng vấn thì tôi không thể hiểu nổi, dù thế nào hành vi ấy cũng thật đáng ngờ”.

Ngay cả khi Nguyễn Quang Lập khi tìm mọi cách chạy tội cho HPNT, cũng nghi ngờ sự thành thật của ông ta.

Chỉ có những người xảo tra mới có cái lưỡi và ánh mắt lấm la lấm lét như thế khi nhìn người đối diện.

Đúng là “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”.

Chú thích:



Tags :